of 30/30
1 DI LC BTÁT Biên son: HUYN THANH BTát Di Lc tên Phn là Maitreya, dch âm Hán Vit là Di Đế L, Mai Đê Lê, Đế L, Mai Đát L, Mi Đát Lý, Mai Đát LDược, Mui Đát Lý Du…là hca BTát, nghĩa là TTh, còn tên ca Ngài là A Dt Đa (Ajita) nghĩa là Vô Năng Thng. _ BTát Di Lc có hiu là TTh, tên hiu đó xác lp căn bn ti hu là Bn Nguyn SHnh ca Ngài. Ngay trên Duyên Khi, đời đời kiếp kiếp Ngài đều tu tp Tam Mui TTâm (Maitra-citta-samādhi), thc hin THnh (Maitra-caryā) để cu độ chúng sinh. Đức đặc bit ca Di Lc là sau khi bt trsthng khca các chúng sinh, lin tiến thêm mt bước là ban cho chúng sinh nim vui ca Pháp (Pháp Lc) .) Kinh Nht Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân TTâm Nhân Duyên Bt Thc Nhc ghi rng: “BTát Di Lc phát tâm không ăn tht, vì nhân duyên này mà có tên là TTh(Maitreya)”. .) Đại Nht Kinh S, quyn 1 ghi nhn là: “TThBtát dùng Tâm T(Maitra-citta) trong bn Tâm Vô Lượng ca Pht làm đầu, Lòng Tnày ttrong Chng Tính ca Như Lai sinh ra, hay khiến cho tt cThế Gian chng bđứt mm ging Pht cho nên xưng là TTh”. .) Kinh Đại Tha Tâm Địa Quán ghi nhn rng: “BTát Di Lc là con ca vPháp Vương, tkhi phát Tâm vì mun kết duyên lành hóa độ hết thy chúng sanh, nên không ăn tht, vì nhân duyên đó mà có tên là TTh_ Do Di Lc là vBTát vào thi đương lai ssinh xung cõi Diêm Phù Đề, ni tiếp sau Đức Pht Thích Ca Mâu Ni (Śākyamui) để thành Pht, vì thế được xưng là Nht Sinh BXBTát (Ekajāti-pratibaddha-bodhisatva), BXTát Đỏa hoc Di Lc Như Lai (Maitreya-tathāgata) .) Kinh Di Lc Thượng Sinh và Phm Ba Bà Ly ca Kinh Hin Ngu Nhân Duyên ghi nhn rng: Ti thi đại khi Đức Pht Đà trđời thì lưu vc ca sông Hng có nước Ba La Ni (Vārāṇasī), thôn Kiếp Ba Li (Kalpali), li có tên gi là Ba Bà Li (Bàvari). Trong nhà Bà La Môn, BTát Di lc hsinh làm con ca Bà La Môn. Thân thca Ngài có màu vàng ròng, li có 32 Tướng, 80 loi vđẹp, Tâm Tính nhân t, ly tên gi A Dt Đa (Ajita), là cao nhân có Trí Tu, ti nhà phú quý được răn dy vhtrưởng thành. Di Lc nhn ssai khiến ca người cu tên là Ba Bà Lê (Bàvari) đi đến núi Thu Đầu (Gdhrakūṭa) thành Vương Xá (Śrāvasti) bái kiến Đức Pht Đà. Khi gn đến núi Thu Đầu thi nhìn thy tướng bánh xe ngàn căm (thiên bc luân) ca Đức Pht, nên Tâm rt ngưỡng m, sau đó theo Đức Pht xut gia, làm vTKhưu Tăng Đức Pht Thích Ca Mâu Ni (‘Sākyamui) trước sau trong Kinh, nhiu lúc ThKý cho BTát Di Lc, tương lai ssinh xung cõi Diêm Phù Đề (Jambu-dvīpa) thành Pht hóa độ chúng sinh. Ngay ti đây, trước tiên htrì cho chúng sinh trong chn này và lưu bày Chính Pháp khiến chng bđon tuyt. A Dt Đa (Ajita) quay vnước ca mình, ngi Kiết Già nhp dit, Thân màu vàng tía, ánh sáng như đồng, Toàn Thân Xá Li như tượng vàng đúc, trong hào quang tròn ca thân có chnghĩa ca ThLăng Nghiêm Tam Mui, Bát Nhã Ba La Mt

DI LẶC BỒ TÁT - dongphapkimcang.comdongphapkimcang.com/vi/images/PhatAm/PhatNgu/Di_Lac_Bo_Tat.pdf · Mê Đế Lệ, Mai Đát Lệ, Mỗi Đát Lý, Mai Đát Lệ Dược,

  • View
    3

  • Download
    0

Embed Size (px)

Text of DI LẶC BỒ TÁT -...

  • 1

    DI LẶC BỒ TÁT Biên soạn: HUYỀN THANH Bồ Tát Di Lặc tên Phạn là Maitreya, dịch âm Hán Việt là Di Đế Lệ, Mai Đê Lê,

    Mê Đế Lệ, Mai Đát Lệ, Mỗi Đát Lý, Mai Đát Lệ Dược, Muội Đát Lý Duệ…là họ của Bồ Tát, nghĩa là Từ Thị, còn tên của Ngài là A Dật Đa (Ajita) nghĩa là Vô Năng Thắng.

    _ Bồ Tát Di Lặc có hiệu là Từ Thị, tên hiệu đó xác lập căn bản tối hậu là Bản Nguyện Sở Hạnh của Ngài. Ngay trên Duyên Khởi, đời đời kiếp kiếp Ngài đều tu tập Tam Muội Từ Tâm (Maitra-citta-samādhi), thực hiện Từ Hạnh (Maitra-caryā) để cứu độ chúng sinh. Đức đặc biệt của Di Lặc là sau khi bứt trừ sự thống khổ của các chúng sinh, liền tiến thêm một bước là ban cho chúng sinh niềm vui của Pháp (Pháp Lạc)

    .) Kinh Nhứt Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục ghi rằng: “Bồ Tát Di Lặc phát tâm không ăn thịt, vì nhân duyên này mà có tên là Từ Thị (Maitreya)”.

    .) Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 1 ghi nhận là: “Từ Thị Bồ tát dùng Tâm Từ (Maitra-citta) trong bốn Tâm Vô Lượng của Phật làm đầu, Lòng Từ này từ trong Chủng Tính của Như Lai sinh ra, hay khiến cho tất cả Thế Gian chẳng bị đứt mầm giống Phật cho nên xưng là Từ Thị”.

    .) Kinh Đại Thừa Tâm Địa Quán ghi nhận rằng: “Bồ Tát Di Lặc là con của vị Pháp Vương, từ khi phát Tâm vì muốn kết duyên lành hóa độ hết thảy chúng sanh, nên không ăn thịt, vì nhân duyên đó mà có tên là Từ Thị”

    _ Do Di Lặc là vị Bồ Tát vào thời đương lai sẽ sinh xuống cõi Diêm Phù Đề, nối

    tiếp sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuṇi) để thành Phật, vì thế được xưng là Nhất Sinh Bổ Xứ Bồ Tát (Ekajāti-pratibaddha-bodhisatva), Bị Xứ Tát Đỏa hoặc Di Lặc Như Lai (Maitreya-tathāgata)

    .) Kinh Di Lặc Thượng Sinh và Phẩm Ba Bà Ly của Kinh Hiền Ngu Nhân Duyên ghi nhận rằng:

    Tại thời đại khi Đức Phật Đà trụ ở đời thì lưu vực của sông Hằng có nước Ba La Nại (Vārāṇasī), thôn Kiếp Ba Lợi (Kalpali), lại có tên gọi là Ba Bà Lợi (Bàvari). Trong nhà Bà La Môn, Bồ Tát Di lặc hạ sinh làm con của Bà La Môn. Thân thể của Ngài có màu vàng ròng, lại có 32 Tướng, 80 loại vẻ đẹp, Tâm Tính nhân từ, lấy tên gọi là A Dật Đa (Ajita), là cao nhân có Trí Tuệ, ở tại nhà phú quý được răn dạy vệ hộ trưởng thành.

    Di Lặc nhận sự sai khiến của người cậu tên là Ba Bà Lê (Bàvari) đi đến núi Thứu Đầu (Gṛdhrakūṭa) ở thành Vương Xá (Śrāvasti) bái kiến Đức Phật Đà. Khi gần đến núi Thứu Đầu thời nhìn thấy tướng bánh xe ngàn căm (thiên bức luân) của Đức Phật, nên Tâm rất ngưỡng mộ, sau đó theo Đức Phật xuất gia, làm vị Tỳ Khưu Tăng

    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (‘Sākyamuṇi) trước sau ở trong Kinh, nhiều lúc Thọ Ký cho Bồ Tát Di Lặc, tương lai sẽ sinh xuống cõi Diêm Phù Đề (Jambu-dvīpa) thành Phật hóa độ chúng sinh. Ngay tại đây, trước tiên hộ trì cho chúng sinh trong chốn này và lưu bày Chính Pháp khiến chẳng bị đoạn tuyệt.

    A Dật Đa (Ajita) quay về nước của mình, ngồi Kiết Già nhập diệt, Thân màu vàng tía, ánh sáng như đồng, Toàn Thân Xá Lợi như tượng vàng đúc, trong hào quang tròn của thân có chữ nghĩa của Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, Bát Nhã Ba La Mật

  • 2

    sáng rực. Chư Thiên liền tạo dựng cái Tháp màu nhiệm bằng mọi vật báu, cúng dường Xá Lợi

    Sau khi Bồ Tát Di Lặc nhập diệt thì ở tòa Sư Sử của điện Ma Ni tại cung Trời Đâu Suất (Tuṣiṭa), đột nhiên hóa sinh ngồi Kiết Già trên hoa sen, thân có màu vàng Diêm Phù Đàn với 32 Tướng 80 loại vẻ đẹp, đỉnh đầu có Nhục Kế màu Lưu Ly xanh biếc, dùng báu Ma Ni làm mão Trời, trong mão phóng ra ánh sáng có vô số vị Hóa Phật với các vị Bồ Tát. Sợi lông trắng (Ūrṇa: bạch hào) ở tam tinh tuôn ra màu sắc trăm báu, cùng với các vị Thiên Tử (Deva-putra) đều ngồi tại tòa hoa, ngày đêm thường nói Pháp chẳng thoái chuyển, đợi Duyên sinh xuống ở cõi Diêm Phù Đề….

    _ Vấn đề liên quan đến việc Bồ Tát Di Lặc được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thọ

    ký sẽ thành vị Phật nối tiếp Ngài trong thời tương lai đã được ghi nhận sớm nhất tại Ấn Độ trong bản Kinh Cakkavatti Sutta (Kinh Chuyển Luân Vương Thánh Vương Sư Tử Hống) ở Digha Nikaya (Trường Bộ 26) thuộc Kinh Tạng Pali.

    “25. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời, là vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; như Ta nay sanh ra ở đời này, là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị này tự mình biết, chứng, và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời, loài Người; như Ta hiện nay tự mình biết, chứng và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời và loài Người. Vị này sẽ thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; như Ta hiện nay thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hành hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Vị này sẽ có khoảng vài ngàn vị Tỷ kheo Tăng đoàn; như Ta hiện nay có khoảng vài trăm vị Tỷ kheo Tăng đoàn vậy.

    26. Này các Tỷ kheo, vua Sankha sẽ cho thiết lập cung điện mà vua Mahà Panada đã thiết lập. Sau khi thiết lập, vua trú tại đó. Sau vua lại bố thí cung điện ấy, dâng cúng cho các vị Sa môn, Bà-la-môn, các hàng bần cùng, du đãng, ăn xin, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn Metteyya, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Vị này xuất gia như vậy, sống một mình, biệt lập, tinh tấn, trì chú, chuyên tâm, chẳng bao lâu chứng được vô thượng phạm hạnh, mà vì mục đích này các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Với vô thượng phạm hạnh này, ngay trong hiện tại, vị này tự tu, tự chứng, đạt đến và an trú.”

    (Bản dịch của Thượng Tọa Thích Minh Châu) Sau đó truyền thống Di Lặc sẽ thành Phật trong thời vị lai được ghi nhận trong

    một số Kinh Bản và được lưu trữ trong Tạng Hán Văn _ Kinh Phật thuyết Pháp Diệt Tận ghi rằng: “Lúc Pháp của Ta diệt thời cũng

    như đèn diệt, từ đây về sau khó thể đếm nói. Như vậy sau đó hàng ngàn vạn năm thời Di Lặc (Maitreya) sẽ xuống Thế Gian làm Phật (Buddha), thiên hạ thái bình, độc khí tiêu trừ, mưa thấm nhuần ôn hoà thích hợp, năm loại lúa đậu tươi tốt, cây cối lớn dài, người cao tám trượng đều sống đến 84 ngàn tuổi, chúng sinh được độ chẳng thể xưng đếm”.

    _ Kinh Chuyển Luân Vương Tu Hành (trích trong Kinh Trường A Hàm do Thích Tuệ Sĩ dịch) có ghi:

  • 3

    “Khi thọ mạng kéo dài đên bốn vạn tuổi, người bấy giờ lại suy nghĩ: ‘Chúng ta do tu thiện mà tuổi thọ kéo dài thêm. Vậy nay hãy tăng thêm một ít điều thiện nữa. Nên tu tập điều thiện gì? Ta nên hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng.’ Từ đó mọi người đều hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, và thọ mạng tăng lên đến tám vạn tuổi.

    “Trong lúc nhân loại sống tám vạn tuổi, con gái đến năm trăm tuổi mới gả chồng, và có chín thứ bịnh là lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, tham dục, ham ăn và già. Cõi đất lúc ấy bằng phẳng không có rạch hầm, gò nổng gai gốc, cũng không mòng muỗi, rắn rết, trùng độc. Ngói, đá, cát, gạch thì biến thành lưu ly. Nhân dân sung túc, ngũ cốc rẻ thường, dồi dào, phước lạc không xiết tả. Có tám vạn thành lớn được dựng lên, thôn thành san sát gần nhau, gà gáy cùng nghe được.

    “Vào thời kỳ ấy thì có đức Phật ra đời hiệu là Di-Lặc Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, mười hiệu đầy đủ, như đức Thích-ca Như Lai ngày nay không khác. Đức Di-lặc kia ở giữa hàng Chư Thiên, Đế Thích, Ma, Thiên Ma, Sa-môn, Bà-la-môn, và nhân gian, mà tự thân tác chứng, cũng như Ta ngày nay ở ngay giữa hàng Chư Thiên, Đế Thích, Ma hoặc Thiên Ma, Sa-môn, Bà-la-môn và nhân gian mà tự mình tác chứng vậy.

    “Đức Di-lặc sẽ thuyết pháp, khoảng đầu, giữa và cuối đều trọn lành, đầy đủ nghĩa vị, tịnh tu phạm hạnh, như ngày nay Ta thuyết pháp, khoảng đầu, giữa, cuối đều chân chánh, nghĩa vị đầy đủ, phạm hạnh thanh tịnh vậy.

    “Đức Di-lặc có chúng đệ tử vô số ngàn vạn, như Ta ngày nay có đệ tử vài trăm. Nhân dân lúc ấy gọi đệ tử ngài là Từ tử như gọi đệ tử ta nay là Thích tử.

    _ Kinh Thuyết Bổn (trích trong Kinh Trung A Hàm do Thích Tuệ Sĩ dịch) ghi

    là: Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật

    hiệu là Di-lặc, Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn; cũng như hôm nay Ta đã thành vị Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

    “Đức Phật ấy ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ. Cũng như hôm nay Ta ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ.

    “Đức Phật ấy sẽ thuyết pháp, phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh. Cũng như Ta hôm nay, thuyết pháp phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.

    “Đức Phật ấy sẽ quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi, hiển hiện. Cũng như Ta hôm nay quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi, hiển hiện.

    “Đức Phật ấy sẽ có vô lượng trăm ngàn chúng Tỳ-kheo, cũng như Ta hôm nay có vô lượng trăm ngàn chúng Tỳ-kheo.”

    Bấy giờ Tôn giả Di-lặc đang ở trong chúng ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, kéo lệch áo đang mặc, vòng tay hướng về Đức Phật, thưa rằng:

    “Bạch Thế Tôn! Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ mạng đến tám vạn tuổi, con sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh

  • 4

    Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cũng như bây giờ Đức Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

    “Con sẽ ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ. Cũng như hôm nay Thế Tôn ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ.

    “Con sẽ thuyết pháp, phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh. Cũng như Thế Tôn hôm nay, thuyết pháp phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.

    “Con sẽ quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi, hiển hiện. Cũng như Thế Tôn hôm nay quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi hiển hiện.

    “Con sẽ có vô lượng trăm ngàn chúng Tỳ-kheo, cũng như hiện giờ Thế Tôn có vô lượng trăm ngàn chúng Tỳ-kheo.”

    Bấy giờ Đức Thế Tôn tán thán Tôn giả Di-lặc rằng: “Lành thay! Lành thay! Di-lặc, ngươi phát tâm cực diệu là dẫn lãnh đại chúng. Lý

    do vì sao? Vì ngươi đã nghĩ: “– Bạch Thế Tôn! Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ mạng đến

    tám vạn tuổi, con sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Cũng như bây giờ Đức Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Con sẽ ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ. Cũng như hôm nay Thế Tôn ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ. Con sẽ thuyết pháp, phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh. Cũng như Thế Tôn hôm nay, thuyết pháp phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh. Con sẽ quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi, hiển hiện. Cũng như Thế Tôn hôm nay quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi hiển hiện.”

    Đức Phật lại nói: “Này Di-lặc, vào một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ đến tám vạn tuổi, ngươi sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Giống như Ta hiện nay là Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

    “Ngươi sẽ ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ. Cũng như hôm nay Ta ở trong đời này gồm Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người cho đến trời, mà tự tri tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trụ.

    “Ngươi sẽ thuyết pháp, phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh. Cũng như Ta hôm nay,

  • 5

    thuyết pháp phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần sau cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.

    “Ngươi sẽ quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi, hiển hiện. Cũng như Ta hôm nay quảng diễn, lưu bố phạm hạnh với những đại hội vô lượng, từ người cho đến trời, khéo phát khởi hiển hiện.

    “Ngươi sẽ có vô lượng trăm ngàn chúng Tỳ-kheo, cũng như hiện giờ Ta có vô lượng trăm ngàn chúng Tỳ-kheo.”

    Bấy giờ, Tôn giả A-nan cầm quạt đứng hầu Phật. Lúc đó, Đức Thế Tôn quay lại bảo:

    “Này A-nan, ngươi hãy lấy tấm y được dệt bằng sợi tơ vàng dệt mang lại đây. Nay Ta muốn cho Tỳ-kheo Di-lặc.”

    Bấy giờ Tôn giả A-nan vâng lời Đức Thế Tôn, liền lấy tấm y được dệt bằng sợi tơ vàng dệt mang lại trao cho Đức Thế Tôn. Sau khi Đức Thế Tôn nhận tấm y được dệt bằng chỉ vàng từ Tôn giả A-nan, Ngài bảo:

    “Này Di-lặc, ngươi hãy nhận tấm y được dệt bằng chỉ vàng này từ Như Lai mà bố thí cho Phật, Pháp và Đại chúng. Lý do vì sao? Này Di-lặc, các Đức Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác vì muốn cứu hộ thế gian và mong cầu thiện lợi và hữu ích, mong an ổn khoái lạc.”

    Bấy giờ Tôn giả Di-lặc nhận lấy tấm y dệt bằng chỉ vàng từ Đức Như Lai xong, liền dâng cúng cho Phật, Pháp và Đại chúng.

    _ Đến thời kỳ phát triển Phật Giáo thì các Kinh Bản có liên quan đến tín ngưỡng

    Di Lặc đã được phổ biến khá sớm tại Trung Quốc, bắt đầu từ thời Nam Bắc Triều, dần dần thịnh hành tại đời Đường, hình thành pháp tu Di Lặc Tịnh Độ và kéo dài đến cho ngày nay. Trong đó có 6 Bộ Kinh thuật lại việc Bồ Tát Di Lặc sinh lên cõi Trời Đâu Suất và từ cung Trời Đâu Suất hạ sinh xuống cõi Diêm Phù Đề thành Phật, cùng Quốc Độ, thời tiết, nhân duyên, chủng tộc, xuất gia, thành Đạo và chuyển bánh xe Pháp.

    6 Bộ Kinh này được lưu trữ trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 14, gồm có:

    1_ Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên Kinh, 1 quyển, [do Cư Sĩ Thư Cừ Kinh Thanh dịch ở đời Liêu Tống Nam Triều] (No.452)

    2_ Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Kinh, 1 quyển, [do Tam Tạng Trúc Pháp Hộ dịch ở đời Tây Tấn, năm 303] (No.453)

    3_ Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh, 1 quyển, [do Tam Tạng Cưu Ma La Thập dịch ở đời Hậu Tần, năm 402] (No.454)

    4_ Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh, 1 quyển, [do Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh dịch ở đời Đường, năm 701] (No.455)

    5_ Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh, 1 quyển, [do Tam Tạng Cưu Ma La Thập dịch ở đời Diêu Tần, năm 402] (No.456)

    6_ Phật Thuyết Di Lặc Lai Thời Kinh, 1 quyển, [Đời Đông Tấn, mất tên người dịch ] (No.457)

    Trong 6 Bộ Kinh này thì 3 Bộ Kinh số 454, 455, 567 được gọi riêng là Di Lặc Tam Bộ Kinh

    Trọng tâm của các Kinh Bản này xiển dương Pháp tu giúp cho con người được sinh về cung Trời Đâu Suất, tiếp tục tu hành dưới sự hóa độ của Bồ Tát Di lặc và đợi đến ngày cùng với Bồ Tát Di Lặc sinh xuống cõi Diêm Phù Đề (khi đó tuổi thọ của con người là tám vạn tuổi). Lúc đó sẽ thật sự thoát khỏi sự chi phối của sinh, già, bệnh, chết và luôn hưởng thụ được Phước Lạc vô biên.

  • 6

    Từ 6 bản Kinh này, tại Trung Hoa đã xuất hiện hai Pháp Môn tu theo tín ngưỡng Di Lặc là:

    1_ Tín ngưỡng Di Lặc Thượng Sinh: là Tín ngưỡng tu hành dựa theo tinh thần của Kinh Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên, cầu sinh về Tịnh Độ của Phật Di Lặc tại Cung Trời Đâu Suất. Đại Sư Đạo An ở đời Đông Tấn (314-385) là người khởi xướng và hành trì Pháp Môn này. Ngài đã từng cùng Đệ Tử Pháp Ngụ và tám người khác ở trước tượng của Đức Di Lặc phát nguyện vãng sanh về cung Trời Đâu Suất. Tiếp theo là các Ngài: Đạo Kiểu, Tăng Nghiệp, Huệ Nghiêm, Đạo Uông, Đạo Pháp, Pháp Thịnh, Đàm Phó, Đàm Vô….Đến đời Đường, các Ngài Huyền Trang, Khuy Cơ cũng hoằng dương tín ngưỡng Thượng Sinh Đâu Suất và tín ngưỡng này trở thành truyền thống của Pháp Tướng Tông.

    _ Các Chú Sớ về Kinh Di Lặc Thượng Sinh gồm có: Di Lặc Kinh Du Ý, 1 quyển của Ngài Cát Tạng Di Lặc Thượng Sinh Kinh Tông Yếu, 1 quyển của Ngài Nguyên Hiểu Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên Kinh Tán (hay Di Lặc

    Thượng Sinh Kinh Sớ), 2 quyển do Ngài Khuy Cơ soạn. 2_ Tín ngưỡng Di Lặc Hạ Sinh: là tín ngưỡng tu hành dựa theo tinh thần của các

    Kinh Di Lặc Hạ Sinh và Kinh Phật nói Pháp Diệt Tận… cầu mong được sinh vào cảnh Tịnh Độ giữa nhân gian khi Đức Di Lặc ra đời, thành Phật dưới cây Long Hoa và nói Pháp 3 Hội để cứu độ chúng sinh. Đây là thuyết Long Hoa Tam Hội.

    _ Các Chú Sớ về Kinh Di Lặc Hạ Sinh gồm có: Di Lặc Hạ Sinh Kinh Sớ, 1 quyển của Cảnh Hưng Di Lặc Hạ Sinh Kinh Nghĩa Sớ, 1 quyển của Thiện Châu Di Lặc Hạ Sinh Kinh Thuật Tát, 1 quyển (không rõ người biên soạn) _ Do thuyết Di Lặc Hạ Sinh phù hợp với tinh thần Tịnh Độ Nhân Gian của Phật

    Giáo Đại Thừa và tinh thần Thế Ngoại Đào Viên của dân tộc Trung Hoa, cho nên tín ngưỡng Hạ Sinh và Long Hoa Tam Hội được phổ biến rất rộng rãi

    Xuất Tam Tạng Ký, tập 12_ Pháp Uyển Tạp Duyên Nguyên Thủy Tập Mục Lục Tự ghi nhận là: “ Đời Lưu Tống, vua Minh Đế (tại vị: 465-471) soạn Long Hoa Thệ Nguyện Văn

    Châu Ngung soạn Kinh Sư Chư Ấp Tạo Di Lặc Tam Hội Ký Đời Tiêu Tề, Cánh Lăng Văn Tuyên Vương soạn Long Hoa Hội Ký Ngài Nam Nhạc Huệ Tư soạn Lập Thệ Nguyện Văn _ Theo các sách sử ghi chép thì các nhóm phản loạn thường dựa vào tín ngưỡng

    Di Lặc Hạ Sinh mà xuyên tạc Kinh Văn rồi xúi giục dân chúng nổi loạn rất nhiều .) Đời Tùy, năm 613 Tống Tử Hiền và Hướng Hải Minh tự xưng là Phật Di Lặc

    xuất thế, tập hợp dân chúng làm loạn .) Đời Đường, khoảng năm 713_755, ở Bối Châu (Hà Bắc) Vương Hoài Cổ tự

    xưng là Tân Phật (tức Phật Di Lặc) dấy binh làm loạn và bị bắt .) Khoảng năm 873_ 888 giáo đồ Di Lặc ở Tây Thục mở rộng thanh thế, tổ chức

    Hội Di Lặc .) Đời Bắc Tống, khoảng năm 1022_1063 Vương Tắc ở Bối Châu thống lãnh

    giáo đồ Di Lặc khởi loạn .) Đời Nam Tống, đời Nguyên, Bạch Liên Giáo trà trộn vào Di Lặc Giáo, mượn

    danh Di Lặc Hạ Sinh để mưu phản

  • 7

    _ Ngoài tín ngưỡng Di Lặc Tịnh Độ ra, Pháp tu theo Đức Di Lặc còn được ghi nhận qua nhiều Kinh Bản khác

    .) Kinh Nhứt Thiết Trí Quang Minh Tiên Nhân Từ Tâm Nhân Duyên Bất Thực Nhục (No.183) ghi nhận tiền thân của Đức Di Lặc.

    .) Đời Tây Tấn, Tam Tạng của nước Nguyệt Chi là Trúc Pháp Hộ dịch một quyển Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Bản Nguyện Kinh (No.349)

    .) Đời Hậu Ngụy, Thiên Trúc Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chí đã dịch Bộ Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Lạc Kinh (còn gọi là Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Kinh) gồm 2 quyển và Bộ Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Kinh Luận gồm 9 quyển (No.1525).

    .) Bộ Mật Giáo, tập 20 ghi nhận 4 Bộ Kinh liên quan đến Bồ Tát Di Lặc là: 1_ Từ Thị Bồ Tát Lược Tu Dũ Nga Niệm Tụng Pháp, 2 quyển [do Tam Tạng

    Thiện Vô Úy dịch ở đời Đường] (No.1141) 2_ Phật Thuyết Từ Thị Bồ Tát Đà La Ni, 1 quyển [do Minh Giáo Đại Sư Pháp

    Hiền dịch ở đời Tống] (No.1142) 3_ Phật Thuyết Từ Thị Bồ Tát Thệ Nguyện Đà La Ni Kinh, 1 quyển [do Minh

    Giáo Đại Sư Pháp Hiền dịch ở đời Tống] (No.1143) 4_ Phật Thuyết Di Lặc Bồ Tát Phát Nguyện Vương Kệ, 1 quyển [do Tổng

    Quản Nghi Tân Công Bố Tra Bố dịch ở đời Thanh] (No.1144). _ Do Tín Ngưỡng Di Lặc rất phổ biến tại Trung Hoa, cho nên việc tạo Tượng Di

    Lặc rất nhiều Đời Nam Tề, Ngài Tăng Hộ có phát nguyện dựng tượng Di Lặc cao khoảng

    303m ở núi Thạch Thành huyện Diệm nhưng Tâm Nguyện chưa thành. Đến năm 516 ngài Tăng Hựu hoàn thành tượng này và được người đời gọi là Tam Thế Thạch Phật, Đại Phật huyện Diêm

    Đời Bắc Ngụy, vua Hiến Văn Đế tạo động Di Lặc ở hang thứ 13 Vân Cương Đại Đồng và an trí pho tượng ngồi cao 16m. Sau khi dời Đô về Lạc Dương, vua Hiến Văn Đế còn tạo hang động Long Môn trong đó có hơn 100 pho tượng Di Lặc lớn nhỏ.

    Đời Bắc Triều, trên sườn núi Hoàng Thạch ở Lịch Thành, Sơn Đông và ở núi Thiên Phật cũng có nhiều tượng Di Lặc.

    _ Đặc biệt vào đời nhà Lương thời Ngũ Đại có vị Hóa Thượng họ Thị tự xưng là

    Khế Thử, hiệu là Trường Đinh Tử, người ở Phụng Hóa thuộc Minh Châu (hoặc nói là người ở Tứ Minh), tỉnh Chiết Giang. Hàng ngày, Ngài thường dùng cây gậy gánh một cái túi vải, thấy vật liền xin, cho nên người đời gọi Ngài là Bố Đại Hòa Thượng

    Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 27 ghi nhận rằng: “Thân của Bố Đại Hòa Thượng béo phì, lông mày rậm, bụng to, lời nói ra không có định được, nằm ngủ ở bất kỳ chỗ nào, thường dùng cây gậy gánh một cái túi vải, hễ ai cho thứ gì thời đều bỏ vào trong cái túi ấy nên người đời gọi là Trường Đinh Tử Bố Đại Sư. Sư hay chỉ bày cho người việc tốt xấu, có thể dự báo được thời tiết”

    Đời Lương, Trinh Minh năm thứ hai (916) tháng 03, sư sắp thị tịch nên ngồi ngay thẳng trên tảng đá bên dưới Đông Lang ở chùa Nhạc Lâm rồi nói Kệ rằng:

    “彌勒真彌勒, Di Lặc chân Di Lặc 分身千百億; Phân thân thiên bách ức 時時示時人,

  • 8

    Thời thời thị thời nhân 時人自不識 Thời nhân tự bất thức” (Di Lặc thật Di Lặc Phân thân ngàn trăm ức Mọi lúc dạy người đời Người đời chẳng tự biết) Nói Kệ xong, an nhiên nhập tịch. Về sau, có người ở Châu khác nhìn thấy sư phụ

    Bố Đại đang đi. Người đời cho rằng Sư là Thân ứng hóa của Bồ Tát Di Lặc, nên chọn ngày mồng một Tháng Giêng (ngày sinh của Sư) làm ngày vía của Đức Phật Di Lặc và xưng tụng là Xuân Di Lặc. Từ đây trở đi, hình tượng Hòa Thượng Bố Đại được tạo dựng ở rất nhiều nơi và người dân Trung Hoa thường xem các Tôn Tượng này là tượng Phật Di Lặc.

    Sau này, sự tích của Hòa Thượng Bố Đại lưu truyền đến Nhật Bản thì Sư trở

    thành một trong 7 vị Phúc Thần của dân tộc Nhật. Hiện nay tại Trung Hoa, tín ngưỡng Di Lặc không còn thịnh hành như ngày xưa

    là do tín ngưỡng vãng sinh về Thế Giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà phát triển mạnh mẽ hơn, thế nhưng tín ngưỡng này vẫn còn phát triển sâu rộng ở Hàn Quốc, Nhật Bản

    _ Tại Việt Nam, tín ngưỡng vãng sinh về cung trời Đâu Suất tu tập dưới sự chỉ

    dạy của Bồ Tát Di Lặc rất mờ nhạt, thế nhưng thuyết Long Hoa Tam Hội của Đức Phật Di Lặc thì lưu truyền rất rộng trong dân gian.

    Đại đa số người dân Việt Nam cho rằng Bố Đại Hòa Thượng tức là Đức Phật Di Lặc nên thường phụng thờ Ngài qua hình tượng mập mạp phúc hậu và thường lễ bái cầu xin Ngài ban cho sự vui vẻ, hạnh phúc, giàu có….cho dù những người chưa hề quy y Tam Bảo, rất ít đến chùa chiền, nhưng hàng năm vẫn được nghe đến xuân Di Lặc và Pháp Hội Long Hoa của Đức Phật Di Lặc trong thời vị lai.

    HÌNH TƯỢNG BỒ TÁT DI LẶC Hình tượng Bồ Tát Di Lặc được phụng thờ theo nhiều cách:

  • 9

    _ Hiện nay Bồ Tát Di Lặc đang mang thân Thiên Chủ ngự trong nội cung Đâu Suất giáo hóa Đồ Chúng, nên Ngài thường được phụng thờ qua hình tượng vị Nhất Bổ Xứ Bồ Tát

    .) Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên ghi nhận là: “Bồ Tát ngồi Kiết Già ở sàng tọa Sư Tử, trên điện Ma Ni, bên trong cái đài bảy

    báu. Thân như màu vàng Diêm Phù Đàn, dài sáu mươi Do Tuần, thảy đều đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi chủng tử.

    Nhục Kế trên đỉnh đầu phát ra màu Lưu Ly xanh biếc, mão báu được trang nghiêm bằng Thích Ca Tỳ Lăng Già Ma Ni (Śakrābhi lagna-maṇi-ratna), trăm ngàn vạn ức báu Chân Thúc Ca (Kiṃśuka:đá báu màu đỏ).

    Mão báu của cõi Trời ấy có trăm vạn ức màu sắc, trong mỗi một màu sắc có vô lượng trăm ngàn vị Hóa Phật (Nirmāṇa-buddha), các vị Hóa Bồ Tát (Nirmāṇa-bodhisatva) dùng làm Thị Giả (Ante-vāsin)

    Lại có các vị Đại Bồ Tát ở phương khác, tác thập bát biến (18 loại thần biến), tùy ý tự tại trụ trong mão Trời.

    Tam Tinh của Di Lặc có ánh sáng của tướng Bạch Hào (Ūrṇā: sợi lông màu trắng xoay vòng theo bên phải) tuôn ra mọi ánh sáng làm màu sắc của trăm loại báu.

    Ba mươi hai tướng, trong mỗi một tướng có năm trăm ức màu sắc báu, mỗi một vẻ đẹp (hảo) cũng có năm trăm ức màu sắc báu. Ánh lửa của mỗi một vẻ đẹp tuôn ra tám vạn bốn ngàn đám mây ánh sáng cùng với các vị Thiên Tử đều ngồi trên Tòa hoa, ngày đêm sáu thời thường nói Hạnh Bất Thoái Chuyển Địa Pháp Luân. Trải qua một thời, thành tựu năm trăm ức Thiên Tử khiến chẳng thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề.

    Như vậy (Bồ Tát) ở cõi Trời Đâu Suất Đà, ngày đêm luôn nói Pháp này, hóa độ các vị Thiên Tử. Khi số tuổi ở cõi Diêm Phù Đề là năm mươi sáu ức vạn tuổi, thì Ngài mới sinh xuống cõi Diêm Phù Đề”

  • 10

    .) Bồ Tát Di Lặc và Đồ Chúng trong nội cung Đâu Suất

  • 11

  • 12

  • 13

    .) Bồ Tát Di Lặc và chúng Thánh tiếp dẫn người vãng sinh về cung Trời Đâu Suất:

  • 14

    .) Hình tượng Bồ Tát Di Lặc có hai tay, Tay trái cầm một đài sen báu, trên Đài hoa có Táo Bình. Tay phải ngang vai, mở năm ngón tay làm thế Vô Úy Thí

    _ Từ Thị Bồ Tát Lược Tu Dũ Nga Niệm Tụng Pháp, quyển hạ ghi nhận là: Tượng Nhất Sinh Bổ Xứ Bồ Tát Tối Thắng Đại Tam Muội Gia, hiệu là Mãng

    Hạ Muội Đát-Lợi Gia Tam Muội Gia (Mahā-maitreya-samaya), cũng có tên gọi là Từ Sinh Tam Muội Gia. Tượng đoan chính vi diệu bậc nhất, màu sắc như màu Đàn Kim (vàng đỏ lợt) của cõi Thiệm Bộ Châu (Jambu-dvīpa). Vẽ tượng có màu vàng đỏ đậm là đúng nhất. Đầu đội mão bảy báu của năm Phật Trí, mọi loại Anh Lạc trang nghiêm, áo khoác ngoài, vòng xuyến, vòng hoa, sợi dây Chú, chân châu, giải áo buông thả, dây lưng trắng, cái đãi cột tóc….

    Ở trong đại viên minh, vẽ hoa sen trăm báu lớn. Vẽ tượng ngồi Kiết Già ở trên hoa sen, nhập Tam Muội Ngưng Định, diện mạo Từ Bi mỉm cười, có đủ 30 cánh tay đều cầm hoa sen báu, ở trên hoa sen đều nắm giữ Bản Ấn Khế, đều biểu thị cho Tam Muội Gia chẳng giống nhau. Có mọi loại hào quang ở thân, đỉnh đầu, sau lưng cũng vậy

    Đầu tiên, tay thứ nhất bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa vẽ Pháp Giới Tháp Ấn. Tay thứ nhất bên phải nắm Kim Cương Quyền, duỗi Phong Tràng (ngón trỏ) chỉ gò má phải khiến chẳng đến ba phân

    Tiếp, tay thứ hai bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa dựng thẳng vẽ Thất Bảo Kim Luân (bánh xe vàng bảy báu). Tiếp tay thứ hai bên phải tác Kim Cương Quyền, cũng duỗi Phong Tràng (ngón trỏ) xoay ngang múa giỡn Tam Cổ Va Đam-La (chày Kim Cương Tam Cổ)

    Tiếp tay thứ ba bên trái dựa theo tay bên phải dựng xoay múa giỡn chày Kim Cương Ngũ Cổ. Tay thứ ba bên phải cầm móc câu Kim Cương

    Tiếp tay thứ tư bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa sen để sợi dây Kim Cương. Tay thứ tư bên phải lật úp xuống vẽ cái loa báu như xoay múa giỡn hình chày Ngũ Cổ

    Tiếp tay thứ năm bên trái cầm phướng phan báu. Tay thứ năm bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ cung điện bảy báu

    Tiếp tay thứ sáu bên trái cầm tràng hạt. Tay thứ sáu bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen để Yết Ma Kim Cương

  • 15

    Tiếp tay thứ bảy bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa sen để Bảo Kim Cương. Tay thứ bảy bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen để Pháp Kim Cương

    Tiếp tay thứ tám bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Như Lai Hào Tướng Tam Muội Gia. Tay thứ tám bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Như Lai My Hình Tam Muội Gia

    Tiếp tay thứ chín bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Như Lai Nhãn Tam Muội Gia. Tay thứ chín bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ hình Như Lai Tỵ Tam Ma Địa

    Tiếp tay thứ mười bên trái cầm Như Lai Nhĩ Căn Tam Muội Gia với Tam Mãng Địa Ấn. Tay thứ mười bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Như Lai Thiệt Căn Tam Muội Gia

    Tiếp tay thứ mười một bên trái cầm Như Lai Khẩu Tam Mãng Địa. Tay thứ mười một bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Phật Tâm Tam Muội Gia

    Tiếp tay thứ mười hai bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Như Lai Tề Tam Ma Địa. Tay thứ mười hai bên phải cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Như Lai Mã Âm Tàng Tam Ma Địa

    Tiếp tay thứ mười ba bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ Như Ý Ma Ni (Cintà-mani). Tay thứ mười ba bên phải cầm cây gậy Như Ý (Như Ý Bổng)

    Tiếp tay thứ mười bốn bên trái cầm cây kiếm báu Như Ý. Tay thứ mười bốn bên phải cầm cái gương báu của Như Lai (Như Lai Bảo Kính)

    Tiếp tay thứ mười lăm bên trái cầm hoa sen, ở trên hoa sen vẽ sư tử báu. Tay thứ mười lăm bên phải cầm chuông chày Kim Cương (Kim Cương Xử Đạc)

    Phần bên trên, 32 tay như vậy đều dùng Kim Cương Quyền cầm hoa sen báu, ở trên hoa sen để Ấn Khế đều dùng dây đai của cõi Trời để cột buộc, lửa rực sáng vây quanh với dùng áo khoác ngoài, mỗi loại trang nghiêm Tượng.

  • 16

    _ Hệ thống Mật Giáo ghi nhận tôn tượng của Bồ Tát Di Lặc trong Trung Đài

    Bát Diệp Viện thuộc Thai Tạng Giới Man Đa La (Garbha-dhātu-maṇḍala) là:

    Mật Hiệu là: Tấn Tật Kim Cương Chữ chủng tử là: YU ( ) Tam Muội Gia Hình là: Táo Bình trên hoa sen, hoặc Tấn Tật Ấn trên hoa sen

    Tướng Ấn là: Liên Hoa Hợp Chưởng Ấn, hay Tấn Tật Trì Ấn Còn gọi là Thế

    Tôn Tấn Tật Trì Ấn. Hai tay kết Hư Tâm Hợp Chưởng, đan chéo 10 đầu ngón tay với nhau, bên phải đè bên trái, cùng nhau gia trì rồi tự xoay chuyển. Biểu thị cho lực gia trì nhanh chóng của sức Thần Biến Bí Mật của Như Lai.

    Chân Ngôn là :

    NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ _ MAHĀ-YOGA YOGINI

    YOGEŚVARI _ KHAṂ JARĪKE _ SVĀHĀ

  • 17

    _ Trong Kim Cương Giới Man Đa La (Vajra-dhātu-maṇḍala), Di Lặc Bồ Tát là một vị thuộc 16 Tôn đời Hiền Kiếp được an trí ở đầu phía Bắc bên phương Đông của nhóm Tam Muội Gia Hội.

    .)Tại Thành Thân Hội (Karma) thì Di Lặc Bồ Tát có Tôn Hình giống như 1000 vị Phật đời Hiền Kiếp

    Mật Hiệu là:Tấn Tật Kim Cương Chữ chủng tử là: A ( ), hay MAI ( ) Tam Muộ Gia Hình là:cái bình Quân Trì

    Tướng Ấn là: Chắp hai tay lại giữa rỗng, hai móng ngón trỏ cùng hợp nhau, hai ngón cái đè mặt bên cạnh ngón trỏ

    Chân Ngôn là:

    OṂ_ MAITREYĀYA SVĀHĀ _ A Hay OṂ_ MAITREYĀYA A SVĀHĀ .)Tại Tam Muội Gia Hội (Samaya) thì Di Lặc Bồ Tát có chữ chủng tử là:A

    ( ) Tam Muội Gia Hình là: Cái bình Quân Trì. Biểu thị cho việc dùng nước của cái

    bình năm Trí rưới rót mọi loài trong Pháp Giới

  • 18

    Tướng Ấn là:Chắp hai tay lại giữa rỗng, hai móng ngón trỏ cùng hợp nhau, hai ngón cái đè mặt bên cạnh ngón trỏ

    Chân Ngôn là:

    OṂ_ MAITREYĀYA SVĀHĀ _ A .)Tại Vi Tế Hội (Sūkṣma) thì Di Lặc Bồ Tát có Chữ chủng tử là: MAI ( ) Tôn Hình: Thân màu thịt trắng, tay trái ngửa trước rốn cầm bình Quân Trì, tay

    phải đè nắp bình.

    Chân Ngôn là:

    OṂ_ MAITREYĀYA SVĀHĀ _ MAI .)Tại Cúng Dường Hội (Pūja) thì Di Lặc Bồ Tát có chữ chủng tử là: MAI ( ) Tôn Hình: Hai tay cầm đài hoa sen, bên trên có bình Quân Trì.

  • 19

    Tướng Ấn là: Chắp hai tay lại giữa rỗng, hai móng ngón trỏ cùng hợp nhau, hai ngón cái đè mặt bên cạnh ngón trỏ

    Chân Ngôn là:

    OṂ_ MAITREYĀYA SVĀHĀ _ MAI .)Tại Giáng Tam Thế Yết Ma Hội (Trailokya-vijaya-karma) thì Di Lặc Bồ Tát

    có chữ chủng tử là: A ( ) Tôn Hình: Hai tay cầm đài sen, bên trên có bình Quân Trì.

    Tam Muội Gia Hình là: Cái bình Quân Trì.

    Chân Ngôn là:

    OṂ_ MAITREYĀYA SVĀHĀ _ A

  • 20

    .)Tại Giáng Tam Thế Tam Muội Gia Hội (Trailokya-vijaya-samaya) thì Di Lặc Bồ Tát có chữ chủng tử là: MO ( )

    Tam Muội Gia Hình là: Cái bình Quân Trì. Biểu thị cho việc dùng nước của cái bình năm Trí rưới rót mọi loài trong Pháp Giới

    Chân Ngôn là:

    OṂ_ MAITREYĀYA SVĀHĀ _ MO _ Bồ Tát Di Lặc còn được phụng thờ qua hình tượng Đức Phật là:

  • 21

  • 22

    Tượng Đại Phật Di Lặc ở Lạc Sơn, Tứ Xuyên, Trung Quốc được khởi tạo năm

    713

  • 23

    _ Dân gian thường thờ phụng Bồ Tát Di Lặc qua hình tượng Bố Đại Hòa Thượng là:

  • 24

  • 25

    Hình Tượng Bố Đại Hòa Thượng ngồi với 5 đứa trẻ tượng trưng cho năm Dục đã được giáo hóa.

    Hình Tượng Bố Đại Hòa Thượng ngồi với 6 đứa trẻ tượng trưng cho “Lục tặc -

    Lục căn” đã được giáo hóa.

  • 26

    Ngày nay, công trình xây dựng Đại Phật Di Lặc ở Kushinagar tại Ấn Độ theo phong cách Di Lặc cổ xưa, có thể là tượng Phật Di Lặc lớn nhất thế giới.

  • 27

    THỦ ẤN CHÂN NGÔN CỦA DI LẶC BỒ TÁT Chữ chủng tử là: YU ( ) hay MAI ( ) hay A ( ) Mật Hiệu là: Tấn Tật Kim Cương Tam Muội Gia Hình là: Táo Bình trên hoa sen, hoặc Tấn Tật Ấn trên hoa sen

    1_ Di Lặc Bồ Tát Thủ Ấn (1)_ Tốt Tháp Bà Ấn (Stūpa-mudra) Ấn này biểu thị cho nghĩa Di Lặc Bồ Tát cầm cái tháp có tất cả Pháp Thân. Đối

    với tất cả Ái Kiến, Phiền Não cho đến vật chẳng thể thắng của hàng Nhị Thừa thời đều thắng được. Biết tất cả tính hiểu biết (Tri Tính) của chúng sinh, tương ứng mà khởi nghĩa Từ (ban niềm vui). Lại xưng là Phát Sinh Phổ Biến Đại Bi Tâm Tam Muội Gia Ấn.

    Chắp hai tay lại giữa rỗng (Hư Tâm Hợp Chưởng) kèm dựng đứng hai ngón cái hợp nhau rồi tiếp chạm phần gốc của hai ngón giữa, co cong hai ngón trỏ vịn nhẹ đầu ngón của hai ngón cái

    2_ Di Lặc Bồ Tát Thủ Ấn (2) _ Liên Hoa Hợp Chưởng: Đây là Thủ Ấn của Di Lặc Bồ Tát tại Trung Đài Bát Diệp Viện trong Thai Tạng

    Giới, là Liên Hoa Hợp Chưởng.

    Hay Tấn Tật Trì Ấn còn gọi là Thế Tôn Tấn Tật Trì Ấn. Hai tay kết Hư Tâm

    Hợp Chưởng, đan chéo 10 đầu ngón tay với nhau, bên phải đè bên trái, cùng nhau gia trì rồi tự xoay chuyển. Biểu thị cho lực gia trì nhanh chóng của sức Thần Biến Bí Mật của Như Lai.

  • 28

    Chân Ngôn là :

    NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ _ MAHĀ-YOGA YOGINI

    YOGEŚVARI _ KHAṂ JARĪKE _ SVĀHĀ [NAMAḤ SAMANTA BUDDHĀNĀṂ: Quy mệnh khắp cả chư Phật MAHĀ-YOGA: Đại Tương Ứng YOGINI: Người tương ứng (Người tu Du Già) YOGEŚVARI: Tương ứng tự tại KHAṂ: Hư Không JARĪKE: Tác sinh SVĀHĀ: Quyết định thành tựu] 3_ Di Lặc Bồ Tát Thủ Ấn (3): Đây là Thủ Ấn của Di Lặc Bồ Tát tại Thành Thân Hội của Kim Cương Giới. Chắp hai tay lại giữa rỗng, hai ngón trỏ cùng hợp móng ngón, hai ngón cái đè

    mặt ngón bên cạnh hai ngón trỏ

    Chân Ngôn là:

    OṂ _ MAITREYA _ A _ SVĀHĀ [OṂ: Quy mệnh MAITREYA: Từ Thị, Di Lặc A: Chủng tử SVĀHĀ: Quyết định thành tựu] _Từ Thị Bồ Tát Thệ Nguyện Đà La Ni:

    Namo bhagavate Śākyamuṇāye tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya Tadyathā: Ajite ajitaṃ jaye, bhara bhara, maitra avalokite, kara kara,

    mahā-samaya siddhi, bhara bhara, bodhi māna vī ni, smara smara, asmākaṃ samayaṃ, bodhi bodhi mahā-bodhi svāhā

    [Namo bhagavate Śākyamuṇāye tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya: Quy y Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác

  • 29

    Tadyathā: Như vậy, liền tuyên nói Chú là Ajite: Vô Năng Thắng Ajitaṃ: Nhóm Vô Năng Nắng Jaye: Tôn Thắng Bhara bhara: Đắc được, đạt được Maitra avalokite: Tâm Từ quán chiếu khắp cả Kara kara: Tác làm, gây tạo Mahā-samaya siddhi: Thành tựu Đại Thệ Nguyện Bhara bhara: Đắc được, đạt được Bodhi māna vī ni: Dẫn đến ý chí Bồ Đề Smara smara: Ghi nhớ, ghi nhớ Asmākaṃ samayaṃ: Thệ Nguyện của chúng ta Bodhi bodhi mahā-bodhi : Giác Tuệ, Giác Tuệ, Đại Giác Tuệ Svāhā: Quyết định thành tựu] Từ Thị Bồ Tát lại phát lời nguyện: “Nếu có chúng sinh ở thời Mạt Pháp trong đời

    vị lai mà hay đọc tụng, thọ trì. Giả sử Nghiệp xưa (Túc Nghiệp) bị đọa vào ngục A Tỳ thì khi Tôi thành Phật sẽ dùng Phật Lực cứu bạt ra khỏi, lại trao cho A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Ký”

    _Từ Thị Bồ Tát Đà La Ni:

    Tadyathā: Siri siri, sara sara, suru suru, dhara dhara, cala cala mahā-cala, bhara bhara mahā-bhara, kaṃpa kaṃpa mahā-kaṃpa, hūṃ visara dharma agra-sāgara svāhā

    [Tadyathā: Như vậy, liền tuyên nói Chú là Siri siri: Tuôn chảy điều tốt lành Sara sara: Lưu chuyển sự bền chắc Suru suru: Tuôn chảy nước Cam Lộ Dhara dhara: Gìn giữ phụng trì Cala cala mahā-cala: Lay động, lay động, lay động lớn mạnh Bhara bhara mahā-bhara: Đắc được, đạt được, đạt được sự to lớn Kaṃpa kaṃpa mahā-kaṃpa: Chấn động, chấn động, chấn động lớn mạnh Hūṃ: Thành tựu Visara dharma agra-sāgara: Kéo dài dẫn đến biển tối thắng của Pháp svāhā: Quyết định thành tựu]

    21/06/2013

  • 30