91
LI CM ƠN Tôi xin kính gi li cm ơn chân thành ti Ban giám hiu, các thy cô trường Đại hc Đin lc, các tchc, cá nhân đã truyn đạt kiến thc, tho lun, cung cp các tài liu cn thiết, cùng vi nhng câu trli và giúp đỡ tôi hoàn thành bài lun văn này. Đặc bit tôi xin cm ơn ti: Cô giáo TS Nguyn Hương Mai: Khoa Qun lý năng lượng -Trường Đại hc Đin lc. Và tôi cũng xin cm ơn ti tt ccác khách hàng, gia đình và bn bè đã giúp tôi trong thi gian qua. Trân trng! Hunh Anh Dũng Lp Cao hc QLNL2 - Trường Đại hc Đin lc

LỜI CẢM ƠN - seea.vn · là một loại hàng hóa đặc biệt với tính chất là không có khả năng tích trữ vì ngay sau khi được sản xuất, điện năng

  • Upload
    others

  • View
    1

  • Download
    0

Embed Size (px)

Citation preview

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin kính gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô trường

Đại học Điện lực, các tổ chức, cá nhân đã truyền đạt kiến thức, thảo luận, cung cấp

các tài liệu cần thiết, cùng với những câu trả lời và giúp đỡ tôi hoàn thành bài luận

văn này.

Đặc biệt tôi xin cảm ơn tới:

Cô giáo TS Nguyễn Hương Mai: Khoa Quản lý năng lượng -Trường Đại học

Điện lực.

Và tôi cũng xin cảm ơn tới tất cả các khách hàng, gia đình và bạn bè đã giúp

tôi trong thời gian qua.

Trân trọng!

Huỳnh Anh Dũng

Lớp Cao học QLNL2 - Trường Đại học Điện lực

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của TS. Nguyễn Hương Mai. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp

đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong

luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả

Huỳnh Anh Dũng

3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1

LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 2

MỤC LỤC .................................................................................................................. 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5

DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................................... 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ .................................................................................... 8

MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 9

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CUNG CẤP ĐIỆN ................................ 12

1.1. Dịch vụ: ............................................................................................................... 12

1.1.1. Khái niệm “dịch vụ”: ....................................................................................... 12

1.1.2 Đặc tính dịch vụ: ............................................................................................... 12

1.1.3 Chất lượng dịch vụ: ........................................................................................... 14

1.2. Dịch vụ cung cấp điện: ....................................................................................... 16

1.2.1 Một số khái niệm về dịch vụ cung cấp điện và khách hàng sử dụng điện: ....... 16

1.2.2. Bản chất của dịch vụ cung cấp điện: ................................................................ 18

1.2.3. Các nhóm chỉ tiêu về dịch vụ cung cấp điện: .................................................. 19

1.2.4. Một số đặc điểm của dịch vụ cung cấp điện: ................................................... 23

1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cung cấp điện: ...................... 24

Kết luận chương I: ..................................................................................................... 27

CHƯƠNG II ............................................................................................................... 29

THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN

LỰC LONG AN ........................................................................................................ 29

2.1. Giới thiệu về Công ty Điện lực Long An: .......................................................... 29

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty ...................................................... 29

2.1.2. Ngành nghề hoạt động kinh doanh: ................................................................. 30

2.1.3. Mô hình tổ chức và nguồn lực lao động: ......................................................... 30

2.2. Tình hình sử dụng điện tại tỉnh Long An: ........................................................... 33

2.2.1. Đặc điểm nguồn và lưới điện: .......................................................................... 33

4

2.2.2. Quản lý khách hàng: ........................................................................................ 34

2.2.3. Điện năng thương phẩm của các khu vực ........................................................ 34

2.3. Đánh giá về chất lượng cung cấp điện tại Công ty Điện lực Long An ............... 36

2.3.1. Chỉ số tiếp cận điện năng đối với khách hàng có nhu cầu lắp đặt mới

đường dây trung thế và trạm biến áp chuyên dùng .................................................... 36

2.3.2. Độ tin cậy trong quá trình cung cấp điện : ....................................................... 48

Tóm tắt và kết luận chương II: ................................................................................... 64

CHƯƠNG III ............................................................................................................. 66

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

DỊCH VỤ CUNG CẤP ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC LONG AN .................. 66

3.1. Quan điểm và định hướng chung. ....................................................................... 66

3.2. Các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện khách hàng. ........ 67

3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao việc thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng đối với

các khách hàng có nhu cầu lắp đặt mới đường dây trung thế và trạm biến áp

chuyên dùng. .............................................................................................................. 67

3.2.2. Giải pháp 2: giảm thời gian mất điện do bảo trì, sửa chữa lưới điện. .............. 70

3.2.3. Giải pháp 3: giảm sự cố và thời gian mất điện do sự cố. ................................ 72

3.2.4. Giải pháp 4: thực hiện đấu nối khách hàng mới vào lưới điện, khắc phục

sự cố, thay thế và sửa chữa vật tư thiết bị có nguy cơ xảy ra sự cố bằng phương

pháp Hotline. .............................................................................................................. 73

3.2.5. Giải pháp 5: Đầu tư các trạm biến áp 220kV và các trạm 110kV phù hợp

với Quy hoạch phát triển lưới điện. ........................................................................... 83

3.2.6. Giải pháp 6: Đầu tư, cải tạo lưới điện phân phối 22kVphù hợp với Quy

hoạch phát triển Điện lực tỉnh Long An, giảm tải các đường dây 22kV đầy tải,

tạo mạch vòng lưới điện, bọc hóa lưới điện giảm sự cố. ........................................... 87

Tóm tắt và kết luận chương III: ................................................................................. 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................... 90

1. Kết luận. ................................................................................................................. 90

2. Kiến nghị ................................................................................................................ 91

5

TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………92

PHỤ LỤC……………….…………………………………………………………94

PHỤ LỤC 1………….………………………………………….…………………94

PHỤ LỤC 2………….………………………………………….………………...103

6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

Điện lực : Điện lực Thành phố, huyện

EVN : Tập đoàn Điên lực Việt Nam

EVN SPC : Tổng Công ty Điện lực miền Nam

GDP : Tổng sản phẩm nội địa

HĐMBĐ : Hợp đồng mua bán điện

HTĐ : Hệ thống điện

MBA : Máy biến áp

KCN : Khu công nghiệp

PCLA : Công ty Điện lực Long An

TBA : Trạm biến áp

TP, TX : Thành phố, Thị xã

UBND : Ủy ban nhân dân

HLATLĐ

: Hành lang an toàn lưới điện

7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu điện năng thương phẩm theo thành phần phụ tải trong năm 2014

Bảng 2.2: Lưu đồ cấp điện khách hàng có trạm riêng

Bảng 2.3: Các trạm 110kV trên địa bàn tỉnh Long An

Bảng 2.4: Tình trạng mang tải của các trạm 110kV trên địa bàn tỉnh Long An

Bảng 2.5: Kết quả thực hiện chỉ tiêu suất sự cố

Bảng 2.6: Kết quả thực hiện chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện

Bảng 3.1: Dự trù kinh phí đầu tư cho 1 đội Hotline

Bảng 3.2: Nhu cầu sửa chữa bằng phương pháp Hotline của PCLA

Bảng 3.3: Lợi ích kinh tế của 1 đội hotline trong 1 năm:

8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Điện lực Long An

Hình 2.2: Biểu đồ khách hàng toàn Công ty từ năm 2010 đến 2014

Hình 2.3: Biểu đồ Điện năng thương phẩm toàn Công ty từ 2008-2014

Hình 2.4 : Biểu đồ cơ cấu thành phần phụ tải toàn Công ty năm 2014

Hình 3.1: Bọc đà , dây để thay sứ đứng.

Hình 3.2: Trồng trụ bằng phương pháp Hotline

Hình 3.3: Lắp đà bằng phương pháp Hotline.

Hình 3.4: Lắp kẹp rẽ nhánh bằng phương pháp Hotline

9

MỞ ĐẦU

a) Lý do chọn đề tài:

Hiện nay, cùng với đà phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thị

trường hàng hoá và dịch vụ đang trở thành thách thức lớn đối với các doanh nghiệp

Việt Nam, trong đó có Công ty Điện lực Long An với nhiệm vụ: Quản lý vận hành,

kinh doanh bán điện và đầu tư phát triển lưới điện từ cấp điện áp 22kV xuống

0,4kV. Nhu cầu sử dụng các dịch vụ cho cuộc sống với chất lượng cao đang là một

đòi hỏi bức thiết mang tính xã hội hoá. Đặc biệt, nhiều khách hàng có xu hướng sẵn

sàng trả tiền để được cung cấp dịch vụ tốt hơn.

Trong xu thế đó “chất lượng dịch vụ” đã trở thành vấn đề quan tâm hàng

đầu, đồng thời tiêu chí “đặt khách hàng ở vị trí trung tâm” đang trở thành chiến lược

mới của nhiều doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập.

Khách hàng luôn là điểm đến cuối cùng trong mọi hoạt động sản xuất kinh

doanh. Đối với các doanh nghiệp làm dịch vụ, khả năng thoả mãn nhu cầu khách

hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng doanh thu và lợi nhuận của

đơn vị. Trong danh mục các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của nền kinh tế, điện năng

là một loại hàng hóa đặc biệt với tính chất là không có khả năng tích trữ vì ngay sau

khi được sản xuất, điện năng được hòa vào lưới điện quốc gia và truyền tải đến nơi

tiêu thụ. Ngày nay, điện năng đã trở thành hàng hóa tiêu dùng không thể thiếu tại

các xã hội có tốc độ phát triển đô thị hóa cao và Việt Nam cũng không là ngoại lệ.

Mặt khác, xét trên bình diện chính trị thì điện năng là mặt hàng mang tính an ninh

quốc gia. Chính vì vậy tại hầu hết các quốc gia trên thế giới điện năng là hàng hóa

độc quyền thuộc sở hữu của Nhà nước. Do có tính chất đặc biệt quan trọng nên việc

cung cấp điện đòi hỏi ngày càng phải được nâng cao, bao gồm: kịp thời đáp ứng

nhu cầu sử dụng điện, đảm bảo đủ công suất cung cấp và nâng cao chất lượng dịch

vụ cung cấp điện, đảm bảo cấp điện an toàn liên tục với chất lượng điện ngày càng

tốt hơn. Chính vì vậy, Chính Phủ đã có chỉ đạo Bộ Công Thương ban hành các

Thông tư, các quy định yêu cầu Ngành điện phải đảm bảo thời gian cấp điện, nâng

cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện và cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút

10

đầu tư. Tập Đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Điện lực miền Nam cũng đã có

chỉ thị thực hiện nâng cao dịch vụ cung cấp điện, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của

khách hàng. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến phương hướng hoạt động, chiến lược

kinh doanh của ngành cũng như của các đơn vị kinh doanh trực tiếp và hình ảnh của

ngành trước xã hội. Trước sự cấp thiết của việc đảm bảo chất lượng dịch vụ cung

cấp điện theo yêu cầu khách hàng, đảm bảo chỉ số độ tin cậy cung cấp điện theo quy

định Thông tư 32 và chỉ số tiếp cận điện năng theo Thông tư 33 của Bộ Công

Thương, Tôi quyết định chọn đề tài “Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch

vụ cung cấp điện tại Công ty Điện lực Long An”.

b) Mục đích nghiên cứu:

Mục tiêu chính của đề tài là đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng

dịch vụ cung cấp điện cho khách hàng sử dụng điện nói chung và đặc biệt là khách

hàng ngoài mục đích sinh hoạt (khách hàng sản xuất, kinh doanh…) của Công ty

Điện lực.

c) Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Thu thập, phân tích đánh giá dữ liệu về thực trạng công tác dịch vụ cung

cấp điện cho khách hàng tại Công ty.

- Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng công tác giải quyết hồ sơ cấp

điện cho khách hàng sử dụng điện ngoài mục đích sinh hoạt, các chỉ số về độ tin cậy

cung cấp điện tại Công ty Điện lực Long An.

- Xác định các tồn tại và các nguyên nhân làm tăng thời gian giải quyết hồ

sơ cấp điện cho khách hàng ngoài mục đích sinh hoạt và tăng thời gian, số lần gián

đoạn cung cấp điện (mất điện) cho khách hàng tại Công ty.

- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện cho

khách hàng tại Công ty Điện lực.

d) Phạm vi, giới hạn nghiên cứu:

- Về không gian: Công ty Điện lực Long An cung cấp điện cho: 1 Thành

phố, 1 Thị xã, 13 Huyện trên địa bàn.

- Về thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng công tác phê duyệt phụ tải phát

triển khách hàng ngoài mục đích sinh hoạt và chỉ số độ tin cậy cung cấp điện cho

11

khách hàng sử dụng điện tại Công ty Điện lực Long An từ năm 2012 đến 2014; Đề

xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện cho khách hàng sử

điện tại Công ty Điện lực Long An đến năm 2016 và các năm sau.

e) Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu, số liệu nhằm xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến

hoạt động dịch vụ cung cấp điện cho khách hàng sử dụng điện ngoài mục đích sinh

hoạt và các nhân tố ảnh hưởng làm tăng chỉ số độ tin cậy cung cấp điện.

- Phương pháp nghiên cứu thông kê, phân tích đánh giá số liệu. Các số liệu

được thu thập từ bộ phận giao dịch khách hàng, Phòng tiếp nhận và giải đáp thông

tin khách hàng, Phòng Điều độ và Phòng Kế hoạch Kỹ thuật Công ty ; một số số

liệu khác được thu thập qua các báo cáo, thống kê hàng năm của Công ty Điện lực

Long An .

- Thông tin số liệu sau khi thu thập sẽ được tổng hợp phân tích, kết hợp với

ý kiến tham khảo (bằng phỏng vấn) các cán bộ chuyên viên thuộc Công ty Điện lực

Long An (PCLA), Tổng công ty Điện lực Miền nam (EVN SPC) và các chuyên gia

kinh tế và các chuyên gia kỹ thuật. Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao

chất lượng dịch vụ cung cấp điện khách hàng sử dụng điện.

f) Dự kiến những đóng góp mới

Đưa các giải pháp ứng dụng thực tế để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp

điện cho khách hàng sử dụng điện tại Công ty Điện lực Long An.

NỘI DUNG

Chương 1: Tổng quan về dịch vụ cung cấp điện

Chương 2: Thực trạng về chất lượng cung cấp điện tại Công ty Điện lực

Long An

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ

cung cấp điện tại Công ty Điện lực Long An.

12

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CUNG CẤP ĐIỆN

1.1. Dịch vụ:

1.1.1. Khái niệm “dịch vụ”: Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất

nhiều cách định nghĩa về dịch vụ nhưng theo Valarie A. Zeithaml và Mary J. Bitner

(2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công

việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thoả mãn nhu cầu và

mong đợi của khách hàng”.

1.1.2 Đặc tính dịch vụ: Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng

hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể cất trữ, tính không

thể tách rời và không thể chuyển giao sở hữu. Chính những đặc tính này làm cho

dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường, mà chỉ có

thể cảm nhận được thông qua quá trình sử dụng, cụ thể như sau:

a) Tính vô hình:

Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một

cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản phẩm vật

chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua

nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế. Do tính chất vô

hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như sản phẩm vật chất.

Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá

chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.

b) Tính không đồng nhất, thiếu ổn định

Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá

do vậy nhà cung cấp khó có thể tiêu chuẩn hoá, đo lường, quy chuẩn hóa chất lượng

dịch vụ một cách thống nhất. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố nằm

ngoài sự kiểm soát của nhà cung cấp dịch vụ như đại diện của nhà cung cấp, khách

hàng và môi trường cung cấp dịch vụ.

13

Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực

hiện thường khác nhau tuỳ thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ,

người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa

điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ

“cao cấp”, “phổ thông” đến “thứ cấp”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ

hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thước đo chuẩn mà phải xét

đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể.

c) Tính không thể lưu trữ, tồn kho được

Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp, do vậy chúng không

thể lưu trữ, tồn kho rồi đem bán như hàng hoá khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực

hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem

ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử

dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo

thành và kết thúc ngay sau đó.

Hoạt động sản xuất và tiêu dùng dịch vụ gắn liền với nhau, cùng bắt đầu và

kết thúc.

d) Tính không thể tách rời

Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó có thể phân chia dịch

vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tạo

thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu

hàng hoá thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người

tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó. Đối

với sản phẩm hàng hoá, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng,

còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình

tạo ra dịch vụ. Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở

nên hoàn tất.

e) Tính không chuyển quyền sở hữu được

Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành

chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Nhưng khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được

14

quyền sử dụng, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất

định. Nói cách khác, người tiêu dùng không thể nhận toàn quyền sở hữu dịch vụ từ

nhà cung cấp, cả hai cùng thực hiện trong quá trình chuyển giao dịch vụ.

Đối với dịch vụ, do tính vô hình và tính không tách rời, các nhà nghiên cứu

đã phân chia dịch vụ thành 2 lớp:

- Lớp thứ nhất gọi là dịch vụ cơ bản: đáp ứng lợi ích cơ bản của khách hàng.

Dịch vụ cơ bản là dịch vụ thỏa mãn nhu cầu chính của khách hàng, là lý do chính để

khách hàng mua dịch vụ. Tuy nhiên dịch vụ cơ bản không phải là lý do làm cho

khách hàng chọn nhà cung cấp dịch vụ, mà chỉ là cơ sở để chọn loại dịch vụ.

- Lớp thứ hai gọi là dịch vụ thứ cấp: Nói cách khác, dịch vụ thứ cấp là sự

kết hợp của cả yếu tố hữu hình và vô hình (mà phần lớn là dịch vụ khách hàng).

Nhờ các dịch vụ thứ cấp mà nhà cung cấp dịch vụ giúp khách hàng phân biệt dịch

vụ của mình với dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Các dịch vụ thứ cấp rất đa dạng

và thay đổi theo sự cạnh tranh trên thị trường. Nó giúp khách hàng lựa chọn tiêu

dùng dịch vụ của nhà cung cấp nào, tức là nó giúp cho nhà cung cấp dịch vụ tăng

khả năng cạnh tranh.

1.1.3 Chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào đối

tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu và việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là

cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của doanh

nghiệp. Vì vậy, việc định nghĩa chất lượng dịch vụ không chỉ quan trọng trong việc

xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho doanh nghiệp phát huy được

thế mạnh của mình một cách tốt nhất. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng

xét một cách tổng thể, chất lượng dịch vụ bao gồm những đặc điểm sau đây:

a) Tính vượt trội:

Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt

trội “ưu việt” của mình so với những sản phẩm khác. Chính tính ưu việt này làm

cho chất lượng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ.

Cũng phải nói thêm rằng sự đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ chịu

15

ảnh hưởng rất lớn đối với việc đánh giá chất lượng dịch vụ từ phía khách hàng trong

các hoạt động marketing và nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng.

b) Tính đặc trưng của sản phẩm:

Chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh tuý nhất kết

tinh trong sản phẩm, dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm, dịch vụ. Vì vậy,

dịch vụ hay sản phẩm, dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm, dịch vụ. Vì

vậy, dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng cao sẽ hàm chứa nhiều “đặc trưng vượt

trội” hơn so với dịch vụ cấp thấp. Sự phân biệt này gắn liền với việc xác định các

thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm dịch vụ. Chính nhờ những

đặc trưng này mà khách hàng có thể nhận biết chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp

khác với các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó xác định các đặc

trưng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy đủ và chính xác. Vì vậy, các đặc trưng này

không có giá trị tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối giúp cho việc nhận biết chất

lượng dịch vụ trong trường hợp cụ thể được dễ dàng hơn thôi.

c) Tính cung ứng

Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện/chuyển giao dịch vụ đến

khách hàng. Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ, và cách cung ứng

dịch vụ sẽ quyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xấu. Đây là yếu tố bên trong phụ

thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp dịch vụ. Chính vì thế, để nâng cao chất

lượng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ trước tiên cần phải biết cải thiện yếu tố nội tại

này để tạo thành thế mạnh lâu dài của chính mình trong hoạt động cung cấp dịch vụ

cho khách hàng.

d) Tính thoả mãn nhu cầu:

Dịch vụ tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Do đó, chất lượng dịch vụ

nhất thiết phải thoả mãn nhu cầu khách hàng và lấy yêu cầu của khách hàng làm căn

cứ để cải thiện chất lượng dịch vụ. Nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không đáp

ứng được nhu cầu của mình thì họ sẽ không hài lòng với chất lưọng dịch vụ mà họ

nhận được. Cũng phải nói thêm rằng trong môi trường kinh doanh hiện đại thì đặc

điểm này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết vì các nhà cung cấp dịch vụ phải

16

luôn hướng đến nhu cầu khách hàng và cố gắng hết mình để đáp ứng các nhu cầu

đó. Sẽ là vô ích và không có chất lượng nếu cung cấp các dịch vụ mà khách hàng

đánh giá là không có giá trị.

Xét trên phương diện “phục vụ khách hàng”, “tính thoả mãn nhu cầu” đã bao

hàm cả ý nghĩa của “tính cung ứng”. Sở dĩ như vậy vì tuy chất lượng dịch vụ bắt

đầu từ khi doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu của khách hàng đến khi tiến hành triển

khai dịch vụ nhưng chính trong quá trình thực hiện cung ứng dịch vụ mà khách

hàng sẽ cảm thấy hài lòng không và từ đó cảm nhận chất lượng dịch vụ tốt hay xấu.

Nếu tính cung ứng mang yếu tố nội tại thì tính thoả mãn nhu cầu lại bị chi phối bởi

tác động bên ngoài nhiều hơn.

e) Tính tạo ra giá trị:

Rõ ràng, chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị được tạo ra nhằm phục

vụ khách hàng. Dịch vụ không sản sinh ra giá trị nào hết thì được xem như là không

có chất lượng. Doanh nghiệp tạo ra giá trị và khách hàng là đối tượng tiếp nhận

những giá trị đó. Vì vậy việc xem xét chất lượng dịch vụ hay cụ thể hơn là các giá

trị đem lại cho khách hàng phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng chứ không phải

của doanh nghiệp. Thông thường, khách hàng đón nhận những giá trị dịch vụ mang

lại và so sánh chúng với những gì họ mong đợi sẽ nhận được.

Nói cách khác, tính giá trị của chất lượng dịch vụ cũng bị chi phối nhiều bởi

yếu tố bên ngoài (khách hàng) hơn là nội tại (doanh nghiệp). Dịch vụ chất lượng

cao là dịch vụ tạo ra các giá trị không chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng mà còn vượt

hơn hẳn các mong muốn của khách hàng và làm cho doanh nghiệp nổi bật hơn đối

thủ cạnh tranh. Do đó, tính tạo ra giá trị là đặc điểm cơ bản và là nền tảng cho việc

xây dựng và phát triển chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp.

1.2. Dịch vụ cung cấp điện:

1.2.1 Một số khái niệm về dịch vụ cung cấp điện và khách hàng sử

dụng điện:

17

- Điện năng: là năng lượng dòng điện dùng cho sản xuất nông nghiệp, công

nghiệp, khoa học đời sống, sinh hoạt,… Có thể nói điện năng có tác động lớn tới

mọi hoạt động của con người trong thời đại ngày nay.

- Dịch vụ khách hàng sử dụng điện ngoài mục đích sinh hoạt (gọi tắt là

dịch vụ khách hàng) là một loại hình dịch vụ, không những làm thỏa mãn nhu cầu

năng lượng cơ bản của mọi tầng lớp dân cư, mà còn là một động lực thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, phát triển xã hội. Và điện dùng ngoài mục đích cho sinh hoạt được

xem như là một nhu cầu thiết yếu đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh, dịch vụ,

đời sống nhân dân và an ninh - xã hội.

Dịch vụ khách hàng sử dụng điện được hiểu như là quá trình mà các cơ sở

cung cấp điện năng chuyển tải điện năng đến khách hàng theo nhu cầu của khách

hàng bằng những kỹ thuật quy định và có thu phí.

Trong thực tế, dịch vụ khách hàng sử dụng điện cũng được gọi vắn tắt là dịch

vụ cung cấp điện có thu phí hoặc bán điện đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của khách

hàng. Nó có các đặc trưng riêng cụ thể sau:

1. Xuất phát từ đặc tính kỹ thuật của điện năng là loại năng lượng được

truyền dẫn qua vật dẫn điện, nên điện được đưa đến tận nơi người tiêu dùng.

2. Dịch vụ cung cấp điện bao gồm các hoạt động cụ thể sự chuyển giao điện

năng từ chủ thể là đơn vị bán điện sang chủ thể khác là khách hàng sử dụng điện

cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày và nhu cầu sản xuất.

3. Điện không tồn kho, sản phẩm mua bán có thể đo đếm được nhưng không

có hình thể cụ thể.

4. Là năng lượng thiết yếu nên giá trị sử dụng điện phong phú đa dạng và

phụ thuộc vào mức sống, tình hình phát triển kinh tế. Mức sống càng cao, điều kiện

sinh hoạt càng nhiều tiện nghi thì mức độ sử dụng điện càng lớn, nền kinh tế phục

hồi nhu cầu điện dùng cho sản xuất để tạo ra sản phẩm càng cao.

5. Do đặc thù lưới điện đầu tư có yêu cầu về kỹ thuật, an toàn điện rất

nghiêm ngặt, chi phí đầu tư lớn, cần không gian để đảm bảo hành lang an toàn, nên

một trong phạm vi địa lý nhất định, thường chỉ có một lưới điện cung cấp điện cho

18

khách hàng, không có sự đan xen tài sản lưới điện trung hạ thế của nhiều doanh

nghiệp đến từng khách hàng. Điều này cho thấy, ở mỗi phạm vi địa lý nhất định

(phường, xã), thì chỉ có một bên bán điện. Là sản phẩm không thể nhìn thấy, tuy

nhiên, nếu điện năng không đảm bảo an toàn khi chuyển tải điện hoặc chất lượng

điện năng không đáp ứng tiêu chuẩn, thì có thể sẽ xảy ra các tai nạn liên quan đến

an toàn điện hoặc hậu quả làm hư hỏng thiết bị sẽ xảy ra rất nhanh chóng và nhìn

thấy rõ.

1.2.2. Bản chất của dịch vụ cung cấp điện: Khi tìm hiểu, nghiên cứu bản chất của dịch vụ cung cấp điện, thì cần phải

xem xét quá trình vận động của công tác dịch vụ khách hàng sử dụng điện. Cụ thể:

- Chuyển tải điện năng từ lưới điện phân phối qua công tơ đến thiết bị,

dụng cụ của khách hàng tiêu dùng; giai đoạn này cả người mua và bán cùng thực

hiện các nội dung như: làm thủ tục cấp điện; lắp đặt thiết bị để người bán cấp cho

người mua; ký kết hợp đồng mua bán điện; đấu nối; đóng điện để đưa điện năng đến

các thiết bị.

- Đảm bảo cho sự truyền tải điện ổn định, an toàn, liên tục: Bên bán điện

phải thường xuyên kiểm tra, sửa chữa, nâng cấp để đảm bảo lưới điện phân phối và

thiết bị đo đếm điện năng hoạt động ổn định; vận hành lưới điện phân phối và thiết

bị đo đếm điện năng theo quy trình kỹ thuật điện; kiểm tra sử dụng điện; tư vấn kỹ

thuật, chăm sóc khách hàng sử dụng điện an toàn.

- Thông qua sản lượng điện đã tiêu dùng giữa hai bên: là các hoạt động của

bên bán, nhằm làm rõ và cung cấp số liệu cho bên mua về sản lượng điện mà bên

mua đã sử dụng.

- Thanh toán tiền điện: Là các hoạt động mà người bán ấn hành chứng từ

thu tiền và người mua thực hiện trả tiền điện.

- Chăm sóc khách hàng, công khai chính sách thủ tục cung cấp điện, tuyên

truyền chương trình sử dụng điện an toàn, tiết kiệm của chính phủ theo từng thời

kỳ; là mặt hàng năng lượng thiết yếu của mọi nhà và độc quyền nhà nước, nên ngoài

việc bên cung cấp dịch vụ phải có tinh thần phục vụ cộng đồng rất cao, bên bán còn

19

phải có các hoạt động nhằm cung cấp thông tin về giá bán điện, tuyên truyền và

hướng dẫn tiết kiệm điện, tư vấn kỹ thuật, chăm sóc khách hàng sử dụng điện theo

quy định của pháp luật về Điện lực.

1.2.3. Các nhóm chỉ tiêu về dịch vụ cung cấp điện: Như đã đề cập ở trước, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là một phạm trù rất

rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Ở

đây, ngoài việc nghiên cứu chất lượng dịch vụ cung cấp điện khách hàng sử dụng

điện về nội dung, đặc điểm, vai trò, ... như những loại hàng hóa dịch vụ khác, đề tài

nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện khách hàng gắn với các

nhóm chỉ tiêu gồm: Chỉ tiêu về chất lượng điện năng; Chỉ tiêu về độ tin cậy; Chỉ

tiêu về dịch vụ khách hàng, cụ thể:

a) Chỉ tiêu về chất lượng điện năng:

- Chất lượng điện năng: bao gồm các yếu tố về tần số và điện áp cung cấp

cho khách hàng. Các giá trị về tần số và điện áp tại vị trí lắp đặt đo đếm cho khách

hàng phải được đảm bảo theo quy định của Luật Điện lực. Chỉ tiêu này là tiêu chí

đánh giá quan trọng đối với dịch vụ cung cấp điện. Ngành điện có trách nhiệm đầu

tư, cải tạo trạm nguồn, hệ thống điện phân phối nhằm đảm bảo chất lượng điện năng

cung cấp cho khách hàng. Mặc dù đối với ngành điện lực Việt Nam, việc đảm bảo

tiêu chí này luôn luôn là một khó khăn, thách thức lớn.

b) Chỉ tiêu về độ tin cậy cung cấp điện:

Độ tin cậy cung cấp điện là chỉ số về thời gian mất điện có kế hoạch và mất

điện do sự cố trong quá trình cung cấp điện, phản ánh tính liên tục trong quá trình

cung cấp điện thể hiện qua các chỉ số được quy định trong thông tư số: 32/2010/TT-

BCT ngày 30/7/2010 của Bộ Công Thương, cụ thể:

- Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối (System

Average Interruption Duration Index – SAIDI)

- Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối (System

Average Interruption Frequency Index - SAIFI);

20

- Chỉ số về số lần mất điện thoáng qua trung bình của lưới điện phân phối

(Momentary Average Interruption Frequency Index - MAIFI).

Các chỉ số về độ tin cậy của lưới điện phân phối được tính toán như sau:

SAIDI được tính bằng tổng thời gian mất điện của các Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong một quý chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức sau:

å

å

=

=

=

=

4

1

1

jj

n

iii

j

SAIDISAIDI

K

KTSAIDI

Trong đó:

Ti: Thời gian mất điện lần thứ i kéo dài trên 5 phút trong quý j;

Ki: Số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua

điện của Đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong quý j;

n: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong quý j;

K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện

mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý j.

SAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện của Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức sau:

å=

=

=

4

1jj

j

SAIFISAIFI

KnSAIFI

Trong đó:

n: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong quý j;

K: Tổng số khách hàng trong quý j của Đơn vị phân phối điện.

21

MAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện thoáng qua của Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức sau:

å=

=

=

4

1jj

j

MAIFIMAIFI

KmMAIFI

Trong đó:

m: số lần mất điện thoáng qua trong quý j;

K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện

mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý j.

- Chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá dịch

vụ cung cấp điện, do điện năng là nguồn năng lượng cung cấp cho phần lớn các

thiết bị, dụng cụ trong mỗi gia đình, và sản xuất vậy nên cho dù là sự cố bất khả

kháng hay do chủ quan của bên bán điện đều ảnh hưởng đến lòng tin của người sử

dụng điện.

- Khả năng đảm bảo cung ứng điện tin cậy:

+ Nguồn điện cấp cho các doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện: Là

nhân tố rất quan trọng, trong điều kiện nước ta đang thiếu nguồn điện như hiện nay.

Ghi nhận thực tế kinh nghiệm năm 2009 do thiếu nguồn điện, nên phần lớn các

doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện trong cả nước đều phải cắt điện luân phiên

để giảm tải, gây thiệt hại lớn cho toàn bộ nền kinh tế, thể hiện: Đối với doanh

nghiệp kinh doanh phân phối điện, chi phí cho việc đóng cắt điện, điều hành lưới

điện tăng đột biến, doanh thu giảm; Đối với người sử dụng, phải mua sắm thêm

máy phát điện hoặc thiết bị lưu trữ điện, sinh hoạt hàng ngày và sản xuất gặp khó

khăn do thiếu điện, lòng tin vào ngành điện bị giảm sút nghiêm trọng.

+ Hạn chế về tài sản lưới điện: Do thiếu vốn đầu tư dẫn đến các trạm nguồn

và lưới điện phân phối bị quá tải, chất lượng điện năng (điện áp và tần số) không

đảm bảo, số lần mất điện và thời gian mất điện cao,… điều này làm suy giảm khả

22

năng cung ứng điện năng của các doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện và giảm

lòng tin của nhân dân với ngành điện.

c) Chỉ tiêu về dịch vụ khách hàng:

Đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá về thời gian, chất lượng, thái

độ giải quyết hồ sơ cung cấp điện đối với khách hàng có nhu cầu sử dụng điện.

Chỉ tiêu về dịch vụ khách hàng được thể hiện qua các biện pháp nhằm giảm

các thủ tục, thời gian và chi phí tiếp cận để được cấp điện, đảm bảo rút ngắn thời

gian tiếp cận theo quy định của Bộ Công Thương.

Theo quy định của Tập Đoàn Điện lực Việt Nam thì chỉ tiêu về dịch vụ

khách hàng được quy định rõ từng nội dung về thời gian giải quyết cấp điện mới,

khắc phục sự cố cấp điện cho khách hàng, cụ thể gồm:

- Thời gian phục hồi cấp điện sau sự cố.

- Thời gian thông báo ngừng, giảm cung cấp điện trong trường hợp khẩn

cấp và không khẩn cấp.

- Thời gian cấp điện mới cho khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh

hoạt và ngoài sinh hoạt đối với khách hàng khu vực nông thôn, Thành phố, Thị xã,

Thị trấn.

- Thời gian thay thế thiết bị đóng cắt đối với lưới điện trung thế và hạ thế.

- Thời gian giải quyết kiến nghị của khách hàng về công tơ đo đếm.

- Thời gian sắp xếp cuộc hẹn với khách hàng.

- Thời gian hoàn trả tiền điện.

- Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với ngành điện….

Một số đánh giá về chỉ tiêu dịch vụ khách hàng:

Mức độ thuận tiện của các thủ tục cấp điện, ngừng cấp điện: đơn giản, thuận

tiện, nhanh chóng, công khai, minh bạch trong việc đáp ứng yêu cầu của khách

hàng, nhưng vẫn bảo đảm các quy định của pháp luật điện lực, cũng như các quy

định của ngành. Thông thường, trình độ nhận thức của mỗi khách hàng là khác

nhau. Do đó, việc đơn giản hóa các thủ tục để mọi khách hàng có thể hiểu và tuân

theo các quy định của pháp luật điện lực cũng như các quy định của ngành là rất

23

quan trọng. Việc giải quyết nhanh chóng và chính xác các thủ tục theo quy định của

pháp luật điện lực và Quy trình kinh doanh điện năng của EVN trong dịch vụ cung

cấp điện cho khách hàng để tạo niềm tin cho họ cũng rất quan trọng, bởi sản phẩm

điện năng là sản phẩm độc quyền nhà nước, đang được khuyến cáo tiết kiệm và là

dịch vụ phục vụ cho số đông, nên rất dễ gây hiểu lầm và làm tổn hại đến hình ảnh

của các doanh nghiệp phân phối điện nói riêng và của ngành điện nói chung.

Thái độ phục vụ của nhân viên của doanh nghiệp phân phối điện: Với đặc thù

là mặt hàng năng lượng cơ bản, thiết yếu . Do đó, đối với mỗi cá nhân cán bộ, công

nhân viên được giao nhiệm vụ giao tiếp với khách hàng, ngoài những tiêu chuẩn chung

của cán bộ, viên chức doanh nghiệp nhà nước, còn phải có những yêu cầu riêng như:

Trong giao tiếp phải làm sao thật gần gũi với khách hàng, trong công việc phải thao tác

nhanh nhẹn, tránh khách hàng chờ lâu và làm việc không chỉ với trách nhiệm đơn

thuần mà phải có tâm huyết cao, thì mới có thể làm hài lòng mọi người và nhân viên

cũng tiếp xúc nhiều với các tầng lớp xã hội như: nông dân, công nhân, trí thức, công

chức nhà nước,... nên cần có hiểu biết căn bản về thủ tục hành chính.

Thông tin và chăm sóc khách hàng: Chăm sóc khách hàng, công khai các thủ

tục cung cấp điện; là mặt hàng năng lượng thiết yếu của mọi nhà và độc quyền nhà

nước, nên ngoài việc bên cung cấp dịch vụ phải có tinh thần phục vụ cộng đồng rất

cao, bên bán còn phải có các hoạt động nhằm cung cấp thông tin về thủ tục cấp

điện, thông báo ngừng giảm cung cấp điện, tuyên truyền và hướng dẫn tiết kiệm

điện, tư vấn kỹ thuật, chăm sóc khách hàng sử dụng điện theo quy định của pháp

luật về điện lực.

1.2.4. Một số đặc điểm của dịch vụ cung cấp điện: - Chất lượng dịch vụ khách hàng sử dụng điện mang tính xã hội hoá

cao: Là mặt hàng căn bản, thiết yếu, luôn có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị

và kinh tế - xã hội, nên dịch vụ cung cấp có đặc trưng riêng khác với sản xuất

kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ khác. Dịch vụ cung cấp điện vừa vì mục tiêu

lợi nhuận, vừa mang nhiệm vụ phục vụ cộng đồng, phát triển kinh tế nhằm đảm

bảo ổn định an ninh, chính trị - xã hội. Do đó, chất lượng dịch vụ cung cấp điện

24

luôn luôn được mọi tầng lớp dân cư quan tâm và tất cả những hạn chế, sai sót

của bên cung cấp dịch vụ từ chất lượng phục vụ, đến chất lượng điện năng đều

để lại những tác động tiêu cực đến hình ảnh của doanh nghiệp kinh doanh phân

phối điện.

- Chất lượng dịch vụ điện chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật (có sự tác

động của pháp luật) hơn các dịch vụ khác: Do đặc thù lưới điện là có liên kết chặt

chẽ với nhau từ nguồn điện (các nhà máy phát điện), đến lưới điện truyền tải (điện

cao thế), đến lưới điện phân phối (điện trung thế và hạ thế) theo khu vực hoặc rộng

lớn hơn là lãnh thổ quốc gia. Do đó, muốn đảm bảo an ninh năng lượng điện thì

việc điều hành, điều tiết hệ thống điện, đặc biệt là hệ thống truyền tải điện phải có

sự can thiệp của nhà nước bằng các công cụ pháp luật. Việc bán điện phục vụ mọi

tầng lớp dân cư, nên cũng phải có sự can thiệp và quản lý của nhà nước. Như vậy

hoạt động điện lực thường ít nhiều có mang tính pháp lệnh. Riêng ở Việt Nam, kinh

doanh ngành điện lực, đặc biệt là khâu truyền tải và phân phối điện là kinh doanh

độc quyền nhà nước. Vậy nên sẽ có nhiều định kiến khác nhau về chất lượng dịch

vụ, trong đó phần đông; là thiên về tiêu cực (dù tốt, dù xấu, dù rẻ, dù đắt thì vẫn

phải sử dụng…).

Tóm lại: Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, với bất kỳ vùng dân

cư nào, thì việc cung ứng điện năng đều là tiêu chí đánh giá quan trọng trong việc

bảo đảm đời sống dân cư và sản xuất, do đó quan niệm về chất lượng dịch vụ cung

cấp điện có những điểm khác so với quan niệm về chất lượng dịch vụ, sản phẩm

hàng hóa, dịch vụ khác. Có thể hiểu Chất lượng dịch vụ cung cấp điện chính là làm

thỏa mãn tốt nhất nhu cầu năng lượng điện của các tầng lớp dân cư; để vừa phải

đảm bảo ổn định an ninh, chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa tiết kiệm chi

phí đầu tư, vừa phải bảo đảm sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phân phối

điện.

1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cung cấp điện: a) Nhóm nhân tố khách quan

Đây là những nhân tố quan trọng, tác động mạnh tới chất lượng hoạt động

25

dịch vụ cung cấp điện . Thuộc nhóm này bao gồm nhiều nhân tố, chủ yếu bao gồm:

Thứ nhất, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Khi Đảng và

Nhà nước có những quyết sách và chủ trương đúng đắn với mục tiêu ổn định đời

sống, phát triển kinh tế đất nước, thì vốn hoạt động của các doanh nghiệp phân phối

điện sẽ được hỗ trợ tích cực hơn, như: Huy động được nguồn vốn tài trợ từ nước

ngoài, vốn tín dụng có bảo lãnh của nhà nước để đầu tư nâng cao chất lượng lưới

điện, cải thiện chất lượng điện năng.

Thứ hai, sự tăng trưởng, phát triển kinh tế. Một nền kinh tế đình trệ, việc chi

tiêu của người dân sẽ bị thắt chặt, khách hàng sản xuất ra sản phẩm không bán được

thu nợ tiền điện gặp khó khăn, kéo theo các doanh nghiệp kinh doanh phân phối

điện năng bị hạn chế nguồn chi phí cho công tác quản lý vận hành lưới điện và kéo

theo chất lượng dịch vụ cung cấp điện sẽ bị ảnh hưởng xấu. Ngược lại, trong một

môi trường kinh tế phát triển lành mạnh thì mức tiêu dùng điện tăng và chất lượng

dịch vụ điện tại doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện sẽ có xu hướng tăng lên.

Thứ ba, môi trường tự nhiên. Môi trường tự nhiên tác động mạnh tới độ bền,

tuổi thọ của lưới điện, cũng như chất lượng điện áp. Nếu điều kiện môi trường tự

nhiên thuận lợi, không có thiên tai, bão lụt thì sẽ giảm sự cố hư hỏng tài sản lưới

điện (đường dây và trạm biến áp) tạo thuận lợi cho hoạt động SXKD của doanh

nghiệp phân phối điện, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ điện.Trời càng

nắng nóng thì tổn thất điện năng càng tăng cao, làm giảm hiệu quả kinh doanh của

các doanh nghiệp phân phối kinh doanh điện.

Thứ tư, môi trường pháp lý. Môi trường pháp lý là điều kiện để mọi hoạt

động kinh doanh diễn ra phù hợp với quy luật kinh tế. Đặc biệt là đối với hoạt động

của doanh nghiệp phân phối điện, kinh doanh mặt hàng năng lượng thiết yếu, chiến

lược, nên chịu sự điều tiết của nhà nước, có sự can thiệp rất sâu của pháp luật. Do

vậy, để bảo đảm cho hoạt động của ngành điện nói chung và các doanh nghiệp kinh

doanh phân phối điện nói riêng phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan, thì đòi

hỏi môi trường pháp lý phải đồng bộ và hoàn thiện. Các điều luật về điện cần đảm

bảo minh bạch, công bằng và thông thoáng về: trình tự, thủ tục cấp điện, ngừng

26

hoặc giảm cấp điện, giá bán điện, từ đó sẽ tạo hành lang pháp lý đảm bảo cho các

doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện năng hoạt động hiệu quả và quyền lợi của

người dân cũng được bảo vệ, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các doanh nghiệp và

khách hàng sử dụng điện.

Điện năng là nhu cầu năng lượng phục vụ hàng ngày cho mọi tầng lớp dân

cư, kinh doanh điện năng chịu sự can thiệp, điều chỉnh rất sâu của pháp luật về điện

lực, trong khi nhận thức chung về luật pháp của dân cư rất đa dạng, điều này tất yếu

sẽ tác động nhiều mặt, theo nhiều chiều hướng cả tích cực lẫn tiêu cực đến chất

lượng dịch vụ điện tại doanh nghiệp phân phối điện. Cho nên, việc tạo ra một môi

trường pháp lý thuận lợi là điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ điện.

Thứ năm, nhận thức của hộ sử dụng điện. Nhận thức, đặc biệt là trong điều

kiện nền kinh tế nước ta còn khó khăn, nguồn vốn đầu tư cho các nhà máy điện còn

hạn chế, việc thiếu nguồn điện luôn thường trực thì nhận thức trong vấn đề sử dụng

điện an toàn, tiết kiệm của từng người dân là nhân tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực

tiếp tới phương thức quản lý, vận hành lưới điện và chất lượng dịch vụ tại các

doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện.

b) Nhóm nhân tố chủ quan:

Đây là những nhân tố thuộc về nội tại của doanh nghiệp kinh doanh phân

phối điện. Chúng bao gồm một số nhân tố chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chiến lược hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh phân phối

điện; Đây là nhân tố ảnh hưởng có tính quyết định tới uy tín và chất lượng dịch vụ

khách hàng sử dụng điện tại doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện. Bởi vì, dịch

vụ điện là hoạt động mang tính phục vụ cộng đồng, nếu như chỉ hoạt động mang

tính chất thụ động, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, không có định hướng một

cách cụ thể và có chiến lược hoạt động của mình thì doanh nghiệp không thể nâng

cao chất lượng hoạt động dịch vụ điện .

Thứ hai, mô hình tổ chức. Xuất phát từ đối tượng khách hàng chính của

doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện là các tầng lớp dân cư, phân bố rộng khắp

trên địa bàn thuộc phạm vi hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bán điện đặc

27

biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, khu vực công nghiệp và thành thị cho nên việc thiết

lập mô hình tổ chức hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh phân phối điện cũng

phải thích ứng với điều kiện này. Do đó, yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh bán

điện phải có các đơn vị đại diện trực thuộc của mình trên địa bàn tất cả các Thành

phố,Thị xã, huyện. Đồng thời phải bố trí bộ máy tổ chức, quản lý đồng bộ, chặt chẽ,

để có thể kiểm soát được mọi hoạt động của đơn vị cơ sở theo đúng quy định của

pháp luật về điện lực.

Thứ ba, cơ sở vật chất (cơ sở hạ tầng). Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng lưới

điện và trạm điện cho hoạt động được hoàn thiện, sẽ tạo tiền đề để phục vụ khách

hàng tốt hơn. Nếu cơ sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn, thì ngay bản thân việc

thực hiện nhiệm vụ vận hành lưới điện an toàn cũng rất khó, chưa nói đến việc nâng

cao chất lượng điện năng, nâng cao chất lượng dịch vụ điện và không thể tạo điều

kiện để cán bộ nhân viên thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Và như vậy

cũng không thể có đủ điều kiện để tăng hiệu quả hoạt động, tăng uy tín đối với

khách hàng.

Thứ tư, yếu tố con người. Đó là phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, phong

cách làm việc của đội ngũ cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp kinh doanh bán điện.

Khách hàng là mọi tầng lớp dân cư, nên trong nhãn quan của khách hàng, thì dịch

vụ cung cấp điện phản ánh rõ nét hình ảnh của doanh nghiệp kinh doanh phân phối

điện nói riêng và của ngành điện lực nói chung, bởi vì chỉ có các doanh nghiệp kinh

doanh bán điện mới là đơn vị tiếp xúc với người tiêu dùng điện năng cuối cùng

trong chuỗi hoạt động của ngành điện. Do vậy phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên

môn, phong cách phục vụ của cán bộ, nhân viên có ảnh hưởng lớn đến chất lượng

dịch vụ cung cấp điện và hình ảnh của ngành điện.

Kết luận chương I:

Những nội dung cơ bản ở chương I có thể khái quát một số điểm như sau:

1. Trình bày khái niệm cơ bản về dịch vụ, đặc tính và chất lượng dịch vụ.

28

2. Trình bày khái niệm về dịch vụ cung cấp điện; bản chất của dịch vụ cung

cấp điện; các nhóm chỉ tiêu của dịch vụ cung cấp điện.

3. Trình bày đặc điểm của dịch vụ cung cấp điện

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ cung cấp điện.

Những nội dung nghiên cứu trên sẽ làm căn cứ cho việc nghiên cứu và đánh

giá thực trạng về chất lượng cung cấp điện tại Công ty Điện lực Long An ở chương

tiếp theo.

29

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP ĐIỆN TẠI CÔNG TY

ĐIỆN LỰC LONG AN

2.1. Giới thiệu về Công ty Điện lực Long An:

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty

Sau ngày chiến thắng 30/4/1975, Ngành điện được tiếp quản, lúc này có 03

trung tâm quản lý điện tại 03 khu vực trọng điểm của tỉnh:

- Trung tâm Điện lực Long An: có 38 CBCNV,

- Trung tâm Điện lực Kiến Tường: có 15 CBCNV,

- Trung tâm Điện lực Hậu Nghĩa: có 12 CBCNV.

Kể từ khi tiếp nhận, đã trải qua các giai đoạn củng cố và phát triển bao gồm:

Ngày 7 tháng 8 năm 1976, Bộ Điện và Than có Quyết định số:

1592/QĐ/TCCB.3 V/v đổi tên Tổng cục Điện lực thành Công ty Điện lực Miền

Nam trong đó có thay đổi tên gọi các đơn vị sản xuất và phụ trợ trực thuộc Công ty.

Lúc này Sở quản lý & phân phối điện Long An được thành lập (sáp nhập 03 trung

tâm Điện lực Long An, trung tâm Điện lực Kiến Tường và trung tâm Điện lực Hậu

Nghĩa ).

Ngày 9 tháng 5 năm 1981 Bộ Điện lực ra Quyết định số: 15/ĐL/TCCB.3 V/v

quy định tên gọi của các cơ quan đơn vị trực thuộc Bộ Điện lực. Như vậy Sở quản

lý & phân phối Điện Long An được đổi tên gọi bằng “Sở Điện lực Long An”.

Ngày 8 tháng 3 năm 1996, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam ra Quyết định

số: 248 ĐVN/TCCB-LĐ V/v đổi tên các Sở Điện lực trực thuộc Công ty Điện lực 2;

Sở Điện lực Long An đổi thành “Điện lực Long An”. Bộ máy tổ chức của Điện lực

Long An gồm có 12 Phòng, Ban, Phân xưởng và 14 chi nhánh điện.

“Điện lực Long An” được đổi tên thành “Công ty Điện lực Long An” trực

thuộc Tổng Công ty Điện lực miền Nam theo Quyết định số 235/QĐ-EVN ngày 14

tháng 4 năm 2010 của Tập Đoàn Điện lực Việt Nam. Cơ cấu tổ chức của Công ty

30

Điện lực Long An gồm có 13 Phòng, Ban, Phân xưởng và 14 Điện lực trực thuộc

(trước đây gọi là các Chi nhánh điện). Nhìn chung về cơ cấu tổ chức không thay

đổi, chỉ có Văn phòng Công ty là đơn vị mới được quyết định thành lập và được

tách từ phòng Tổ chức –Hành chánh; đổi tên phòng Tổ chức -Hành chánh và phòng

Quản lý xây dựng thành phòng Tổ chức nhân sự và phòng Quản lý đầu tư.

Công ty Điện lực Long An là đơn vị hạch toán phụ thuộc vào Tổng công ty

Điện lực miền Nam (theo hình thức công ty mẹ, công ty con) có chức năng, nhiệm

vụ: Quản lý vận hành an toàn lưới điện cấp điện áp từ 22 kV trở xuống; Cung cấp

điện và kinh doanh điện năng trên phạm vi toàn tỉnh Long An và một số ngành nghề

kinh doanh khác theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước Tổng công ty

Điện lực miền Nam về bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn lực, tài sản được giao.

2.1.2. Ngành nghề hoạt động kinh doanh:

Ngành nghề kinh doanh của Công ty Điện lực Long An hiện tại đang thực

hiện theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 0300942001-017, thay đổi lần thứ 6,

ngày 29/10/2013. Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chủ yếu gồm:

a. Sản xuất,truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện;

b. Sửa chữa thiết bị điện, quản lý vận hành, sửa chữa nguồn điện, đường

dây và trạm biến áp đến cấp điện 35kV; chế tạo sửa chữa thiết bị điện; gia công cơ

khí các loại phụ kiện.

c. Tư vấn khảo sát, thiết kế, lập dự toán, và khảo sát thi công các công

trình lưới điện có cấp điện áp đến 35kV; tư vấn lập dự toán đầu tư, đấu thầu đường

dây và trạm biến áp đến cấp điện áp 35kV; thí nghiệm, hiệu chỉnh thiết bị điện đến

cấp điện áp 35kV; kiểm định phương tiện đo lường.

d. Xây lấp đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp 35kV;

2.1.3. Mô hình tổ chức và nguồn lực lao động:

Trải qua quá trình hình thành phát triển Công ty, những đặc điểm môi trường

kinh doanh, thị trường và khách hàng tại tỉnh Long An. Mô hình tổ chức được hình

thành phù hợp, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính chuyên nghiệp,

31

hiệu quả kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mô hình tổ chức tại Công ty

được thiết lập như sau:

- Giám đốc;

- 03 Phó Giám đốc.

- Bộ máy tham mưu, gồm: 14 phòng, Ban, phân xưởng .

- Các đơn vị sản xuất sản xuất, gồm:

+ 14 Điện lực trực tiếp quản lý vận hành lưới điện và kinh doanh bán điện

theo địa dư hành chính của các huyện, Thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh Long An.

- Tống số CBCNV đến ngày 31/12/2014 : 995 người, trong đó: Nữ: 149

người; Nam: 846 người, bao gồm:

+ Tại Văn Phòng Công ty: 146 người. Trong đó: Nữ là 35 người; Nam là 111

người

+ Tại 14 Điện lực trực thuộc: 849 người. Trong đó: Nữ là 114 người; Nam là

735 người.

32

Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Điện lực Long An

GIÁM ĐỐC CÔNG TY

PHÓ GIÁM ĐỐC

KỸ THUẬT

PHÓ GIÁM ĐỐC

KINH DOANH PHÓ GIÁM ĐỐC

CÔNG NGHỆ

CÁC PHÒNG BAN CÔNG TY

PHÒNG KẾ HOẠCH KỸ THUẬT

PHÒNG KINH DOANH

PHÒNG VẬT TƯ

PHÒNG KIỂM TRA GIÁM SÁT MUA

BÁN ĐIỆN

PHÒNG THANH TRA BẢO VỆ PHÁP

CHẾ

PHÒNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ

PHÒNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

PHÒNG AN TOÀN

PHÒNG ĐIỀU ĐỘ

PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN

VĂN PHÒNG

PHÂN XƯỞNG CƠ ĐIỆN

BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN

ĐIỆN LỰC TÂN HƯNG

ĐIỆN LỰC VĨNH HƯNG

ĐIỆN LỰC MỘC HÓA

ĐIỆN LỰC TÂN THẠNH

ĐIỆN LỰC THẠNH HÓA

ĐIỆN LỰC TÂN AN

ĐIỆN LỰC ĐỨC HÒA

ĐIỆN LỰC ĐỨC HUỆ

ĐIỆN LỰC BẾN LỨC

ĐIỆN LỰC CẦN GIUỘC

ĐIỆN LỰC CẦN ĐƯỚC

ĐIỆN LỰC CHÂU THÀNH

ĐIỆN LỰC TÂN TRỤ

ĐIỆN LỰC THỦ THỪA

CÁC ĐIỆN LỰC TRỰC THUỘC

33

2.2. Tình hình sử dụng điện tại tỉnh Long An:

Long An là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (theo quyết

định số 146/QĐ-TTg, ngày 13/8/2004 của Thủ tướng chính phủ), có vị trí địa lý

giáp ranh với TP Hồ Chí Minh nên có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện chủ

trương Công nghiệp hóa- hiện Đại hóa, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) luôn ở

mức cao so với mặt bằng chung của cả nước. Trong những năm gần đây, tỉnh Long

An luôn nằm trong tốp 10 về chỉ số cạnh tranh, và vốn đầu tư nước ngoài FDI, toàn

tỉnh hiện có 30 KCN, trong đó có 22 khu đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích

trên 3.265ha; 32 cụm công nghiệp, với tổng diện tích đất quy hoạch là 3.368 ha,

trong đó có 14 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích là 618,2 ha.

Do đó vấn đề cấp điện cho khách hàng nhất là cấp điện cho các phụ tải công nghiệp

luôn được đặt lên hàng đầu, cần rất nhiều nổ lực để công tác cấp điện ngày một tốt

hơn.

2.2.1. Đặc điểm nguồn và lưới điện:

a) Nguồn điện:

Khu vực tỉnh Long An trực tiếp nhận điện từ hệ thống điện các Trạm 110kV

của Công ty lưới điện cao thế miền Nam.

Các trạm 110kV cấp cho khu vực tỉnh Long An gồm 15 TBA với tổng dung

lượng 812MVA, trong đó:

- Công ty Điện lực Lưới điện cao thế miền nam quản lý (thuộc tài sản

EVN): 11 TBA 110kV với : 17 MBA có tổng dung lượng là 741 MVA.

- Khách hàng quản lý 04 TBA 110kV với 5 MBA dung lượng là 71 MVA.

- Tổng ngăn lộ các trạm 110 kV (thuộc tài sản EVN): 62 ngăn lộ.

b) Lưới trung thế:

Được hình thành từ phía thứ cấp của các trạm 110kV khu vực tỉnh Long An

lưới điện trung thế cấp cho Tỉnh Long an có tổng chiều dài là 4.047,891 km, chủ

yếu là đường dây trên không, chỉ các lộ ra 22kV đầu trạm mới có cáp ngầm.

- Đường dây 22 kV : 4.047,891 km

34

- Trạm phân phối: 10.678 TBA, với tổng dung lượng 1.963MVA, vận hành

ở cấp điện áp 22/0.4 kV.

c) Lưới hạ thế:

- Tổng chiều dài đường trục hạ thế: 3.722,8021 km.

d) Tổng dung lượng tụ bù đã lắp đặt trên lưới và đang vận hành:

- Tính đến thời điểm hiện tại, tổng dung lượng bù trên toàn lưới là:

860,8MVAr trong đó lưới hạ áp là : 745,2 MVAr, lưới trung 115,6 MVAr .

2.2.2. Quản lý khách hàng:

Tính đến 31/12/2014, Công ty quản lý và bán điện trực tiếp cho 337.845 khách

hàng (trong đó: 318.277 khách hàng sinh hoạt và 19.568 khách hàng ngoài mục đích

sinh hoạt).

Hình 2.2. Biểu đồ khách hàng toàn Công ty từ năm 2010 đến 2014. [5]

2.2.3. Điện năng thương phẩm của các khu vực

Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh

tế của tỉnh Long An trong những năm trở lại đây là rất mạnh, điều này đòi hỏi phải

có sự phát triển tương ứng về lĩnh vực kết cấu hạ tầng như: điện, nước, giao thông,

bệnh viện, trường học... Do có sự chuẩn bị khá tốt về nguồn lực, Công ty Điện lực

Long An đã tập trung đầu tư phát triển hệ thống lưới điện trên khắp các huyện ,TP,

35

TX trên địa bàn, đáp ứng kịp thời nhu cầu điện ngày một tăng của khách hàng và

đến năm 2014 đã đạt mức thương phẩm điện 2,888 tỷ kWh tốc độ tăng trưởng trung

bình trên 13% /năm.

Hình 2.3. Biểu đồ Điện năng thương phẩm toàn Công ty từ 2008-2014

(Đơn vị: tr.kWh). [5]

Bảng 2.1. Cơ cấu điện năng thương phẩm theo thành phần phụ tải trong năm

2014

Thành phần phụ tải Đơn vị 2014 Tỷ trọng

Nông nghiệp tr. kWh 9,884689 0,34%

Công nghiệp tr. kWh 2.049,77 70,96%

Thương nghiệp tr. kWh 77,803 2,69%

Quản lý tiêu dùng tr. kWh 706,89 24,47%

Khác tr. kWh 44,302 1,53%

Tổng thương phẩm tr. kWh 2.888,66 100%

36

Hình 2.4. Biểu đồ cơ cấu thành phần phụ tải toàn Công ty năm 2014

Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác SXKD Công ty Điện lực Long An năm 2014.[5]

Theo cơ cấu điện năng thương phẩm theo thành phần phụ tải của Công ty

cho thấy tỷ trọng điện dùng cho công nghiệp chiếm tỷ trọng 70,96% cao nhất trong

5 thành phần phụ tải, mà đối tượng khách hàng này đòi hỏi rất cao về chất lượng

cung cấp điện để phục vụ cho công tác sản xuất. Do đó việc nâng cao chất lượng

dịch vụ cung cấp điện không những là áp lực lớn trong công tác đầu tư, cải tạo lưới

điện, mà còn là thách thức không nhỏ cho việc quản lý vận hành và đảm bảo chất

lượng điện năng cung cấp.

2.3. Đánh giá về chất lượng cung cấp điện tại Công ty Điện lực Long An

2.3.1. Chỉ số tiếp cận điện năng đối với khách hàng có nhu cầu lắp đặt

mới đường dây trung thế và trạm biến áp chuyên dùng

Với vị trí địa lý nằm gần TP Hồ Chí Minh, cộng với điều kiện diện tích đất

phục vụ công nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh ngày càng bị thu hẹp, chủ trương

di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu vực trung tâm đông dân cư của UBND

TP.HCM, nên trong các năm qua trên địa bàn các huyện giáp ranh với TP.HCM như

Đức Hòa, Tân An, Cần Giuộc, Cần Đước... có rất nhiều nhà đầu tư đã di dời cơ sở

sản xuất từ TP.HCM về và xây dựng cơ sở nhà xưởng để phục vụ sản xuất. Vì vậy,

nhu cầu đầu tư, xây dựng đường dây và trạm biến áp chuyên dùng là rất lớn, cụ thể :

37

a) Giai đoạn năm 2012-2013:

Công tác giải quyết hồ sơ cấp điện đối với các khách hàng có nhu cầu xây

dựng mới đường dây trung áp và trạm biến áp chuyên dùng trong giai đoạn này thực

hiện dựa trên quy trình kinh doanh điện năng của EVN từ đó EVNSPC soạn thảo và

ban hành quy trình kinh doanh áp dụng trong toàn EVNSPC. Căn cứ trên quy trình

kinh doanh của EVNSPC ban hành có quy định các nội dung giải quyết hồ sơ cấp

điện cho khách hàng, Công ty Điện lực Long An ban hành quyết định số 727/QĐ-

PCLA, ngày 04/8/2010 về việc quy định phân cấp phê duyệt phát triển phụ tải trong

Công ty Điện lực Long An, với thời gian quy định như sau:

- Thời gian giải quyết thủ tục phát triển phụ tải không quá 10 ngày làm

việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cung cấp điện của khách hàng.

- Thời hạn thỏa thuận hồ sơ thiết kế không quá 15 ngày làm việc tính từ

ngày nhận đầy đủ hồ sơ thiết kế công trình.

Các công việc còn lại như: thi công, đấu nối lưới điện khách hàng vào lưới

điện ngành điện quản lý, nghiệm thu đóng điện đưa vào vận hành ... không quy định

rõ thời gian cụ thể, do còn phụ thuộc vào tài chính của chủ đầu tư và năng lực của

đơn vị thi công, đăng ký cắt điện đấu nối ... do đó từ khi khách hàng đăng ký mua

điện đến khi khách hàng được cấp điện thường kéo dài, cụ thể:

- Năm 2013 toàn Công ty Điện lực Long An thực hiện tiếp nhận 396 hồ sơ

đề nghị cấp điện của khách hàng lắp trạm chuyên dùng, trong đó đã giải quyết cấp

điện hoàn tất 396 hồ sơ.

- Về thời gian giải quyết cấp điện từ khi khách hàng nộp hồ sơ đến khi

đóng điện đưa vào vận hành của 396 hồ sơ năm 2013 như sau:

+ Từ 70 ngày trở xuống: 149 hồ sơ, chiếm tỷ lệ : 37,6 %

+ Trên 70 ngày : 247 hồ sơ, chiếm tỷ lệ : 62,4 %

Các khó khăn gặp phải trong quá trình phê duyệt hồ sơ cấp điện khách

hàng trong giai đoạn này bao gồm:

38

- Khách hàng đề nghị lắp trạm chuyên dùng với công suất đặt lớn hơn rất

nhiều so với công suất sử dụng, vì vậy nhân viên Điện lực phải mất nhiều thời gian

khảo sát thực tế nhu cầu sử dụng để phê duyệt phụ tải cho phù hợp.

- Chủ đầu tư thường ủy quyền cho Đơn vị thi công thực hiện từ khâu lập hồ

sơ đến khi đóng điện đưa vận hành nên thời gian thi công lắp đặt trạm thường kéo

dài.

- Công tác lập hồ sơ quyết toán công trình của Đơn vị thi công chưa chuẩn

xác làm mất nhiều thời gian trong việc kiểm tra và nghiệm thu đóng điện.

- Đối với các công trình đòi hỏi phải thực hiện thỏa thuận hướng tuyến với

chính quyền đại phương, cơ quan quản lý đường bộ để trồng trụ kéo dây thì thời

gian giải quyết hồ sơ thường chậm do công tác thỏa thuận hướng tuyến thường kéo

dài, mất nhiều thời gian.

- Thời gian triển khai thi công công trình phụ thuộc vào thỏa thuận của

khách hàng với nhà thầu thi công. Trong một số trường hợp tuy thời gian phê duyệt

hồ sơ đúng theo quy định nhưng lại gặp khó khăn do năng lực tài chính hay các yếu

tố khách quan thuộc về chủ đầu tư và nhà thầu thi công thì thời gian thực hiện hoàn

tất công trình từ khi nộp hồ sơ cấp điện đến khi hoàn thành nghiệm thu công trình

thường kéo dài.

Nhận xét:

Trong giai đoạn này do quy định chưa chặt chẽ về thời gian và trách nhiệm

của các bên trong việc thực hiện giải quyết hồ sơ cấp điện cho khách hàng, áp lực

đẩy nhanh tiến độ đóng điện các công trình chưa cao nên việc giải quyết cấp điện

cho các khách hàng có nhu cầu xây dựng đường dây, và TBA mới thường kéo dài

với nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu thuộc về các yếu tố khách quan như: hồ sơ

thỏa thuận hướng tuyến thường kéo dài; khách hàng nộp hồ sơ không đầy đủ theo

quy định, phải bổ sung nhiều lần; sau khi thỏa thuận thiết kế thì khách hàng không

thi công ngay mà kéo dài nhiều tháng do gặp khó khăn về tài chính hoặc các nguyên

nhân khác từ phía khách hàng và đơn vị thi công; công trình thi công xong nhưng

39

phải chờ sắp lịch cắt điện để đấu nối lưới điện. Do đó công trình thường kéo dài dẫn

đến việc cấp điện cho khách hàng chưa được kịp thời.

b) Năm 2014:

Thực hiện nghị quyết số : 19 NQ-CP, ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính

phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng

cao năng lực cạnh tranh trong đó yêu cầu Bộ công Thương triển khai thực hiện và

chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt nam thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm giảm

thủ tục, thời gian và chi phí tiếp cận để được cấp điện đối với các dự án doanh

nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo đảm rút thời gian tiếp cận xuống còn tối

đa 70 ngày. Để thực hiện Nghị quyết số 19 của Chính phủ, Tập Đoàn Điện lực Việt

Nam và Tổng Công ty Điện lực miền Nam đã triển khai thực hiện các công tác dịch

vụ khách hàng, cụ thể qua: Chỉ thị số 888/CT-EVN, ngày 18/3/2014 của Tập đoàn

điện lực Việt Nam và chỉ thị số 2091/CT-EVN–SPC, ngày 01/4/2014 của Tổng

công ty Điện lực miền Nam về việc triển khai công tác kinh doanh và dịch vụ khách

hàng 2014.

Thực hiện theo chỉ đạo của Tập Đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty

điện lực Miền Nam về việc triển khai công tác dịch vụ khách hàng trong đó có quy

định đảm bảo chỉ số tiếp cận điện năng đối với các khách hàng có nhu cầu lắp đặt

đường dây trung áp và trạm biến áp chuyên dùng (quy định thời gian từ khi nhận hồ

sơ đến khi đóng điện khách hàng không quá 70 ngày ), Công ty Điện lực Long An

đã ban hành Quy định tạm thời trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ lắp đặt đường dây

và TBA chuyên dùng của khách hàng (theo quyết định số 776/QĐ-PCLA của Công

ty Điện lực Long An), trong đó có quy định một số nội dung chính về trình tự và

thời gian giải quyết hồ sơ như sau:

b.1. Phân cấp trách nhiệm thỏa thuận đấu nối công trình điện:

- Công ty Điện lực Long An sẽ thoả thuận các hồ sơ công trình Khách hàng

mua điện với điện áp dưới 110kV có công suất trạm biến áp dưới 10.000kVA.

- Các Điện lực trực thuộc PCLA sẽ thoả thuận đấu nối công trình điện trong

các trường hợp sau:

40

+ Tiếp nhận, giải quyết các trường hợp khách hàng đề nghị mua điện trong

địa bàn của Điện lực quản lý đến cấp điện áp 22kV, lắp mới trạm biến áp, tăng công

suất dưới 1000kVA;

+ Tiếp nhận, trình Công ty Điện lực Long An ký duyệt các trường hợp

khách hàng đề nghị mua điện lắp mới trạm, tăng công suất trạm biến áp trên mức

phân cấp cho các Điện lực.

b.2. Trình tự tiếp nhận và giải quyết hồ sơ:

- Các Đơn vị Điện lực thực hiện giao dịch với khách hàng theo cơ chế “một

cửa” để giải quyết các yêu cầu cấp điện của khách hàng, bao gồm các thủ tục: Từ

khâu tiếp nhận yêu cầu mua điện, khảo sát, thiết kế, ký HĐMBĐ, thi công, lắp đặt

hệ thống đo đếm, đến nghiệm thu đóng điện cho khách hàng.

- Bộ phận một cửa Phòng Kinh Doanh Điện lực trực tiếp nhận hồ sơ của

khách hàng đăng ký mua điện trong địa bàn thuộc Điện lực quản lý.

- Hình thức chuyển hồ sơ giải quyết theo phân cấp: Các Phòng, Ban, Phân

xưởng cơ điện và Điện lực xem xét phương thức giao, nhận hồ sơ nhanh nhất qua

các hình thức như: fax, scan, mail, mạng nội bộ công ty,… để kiểm tra, giải quyết

thủ tục hồ sơ theo phân cấp và chức năng nhiệm vụ được giao.

b.3. Công tác khảo sát, lập phương án cấp điện, phê duyệt điểm đấu nối:

- Công tác phê duyệt phê duyệt phụ tải: không quá 05 ngày làm việc tính từ

ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định.

- Công tác phê duyệt thiết kế trường hợp chủ đầu tư giao Điện lực làm tư

vấn thiết kế: Để rút ngắn thời gian thiết kế, Điện lực thực hiện song song công tác

thiết kế với bước khảo sát, lập phương án cấp điện, thỏa thuận hướng tuyến, phê

duyệt điểm đấu nối,... và đảm bảo thời gian kể từ lúc khảo sát đến khi hoàn tất thiết

kế là 07 ngày làm việc.

- Công tác phê duyệt thiết kế thỏa thuận thiết kế đối với trường hợp chủ đầu

tư giao Đơn vị khác ngoài ngành Điện làm tư vấn thiết kế: thời gian thỏa thuận thiết

kế là 03 ngày làm việc kể từ ngày khách hàng gửi đủ hồ sơ đề nghị thỏa thuận thiết

kế theo qui định. Hồ sơ đề nghị gồm:

41

STT Danh mục Số bản Ghi chú

1 Giấy đề nghị TTTK của chủ đầu tư

hoặc của Đơn vị TVTK 1

Phải giấy có uỷ quyền của

chủ đầu tư

2 Hồ sơ thiết kế kỹ thuật công trình > 2 Lưu lại 02 bộ

b.4. Thời gian nghiệm thu đóng điện đưa vào vận hành:

Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày khách hàng gởi đủ

hồ sơ đề nghị đóng điện theo quy định (Giấy yêu cầu nghiệm thu công trình (có xác

nhận đã hoàn tất việc thi công xây dựng công trình); Các biên bản nghiệm thu kỹ

thuật từng phần; Hồ sơ hoàn công công trình; các văn bản pháp lý liên quan).

- Trong công tác thẩm tra hồ sơ thiết kế, hồ sơ nghiệm thu:

+ Trước kia, khi chưa có thông tư 09/2014/TT-BXD, ngày 10/7/2014 của Bộ

Xây Dựng, thì Sở Công Thương thực hiện thẩm tra hồ sơ thiết kế trong thời gian 30

ngày làm việc và thẩm tra hồ sơ nghiệm thu trong thời gian 15 ngày làm việc (theo

thông tư số 13/2013/TT-BXD, ngày 15/8/2013 của Bộ Xây Dựng có hiệu lực từ

ngày 30/9/2013 và Nghị định số 15/2013/NĐ-CP, ngày 06/02/2013, của Chính Phủ,

có hiệu lực từ ngày 15/4/2014) nên tổng thời gian thực hiện công trình khó thực

hiện đạt theo chỉ số tiếp cận điện năng (không quá 70 ngày).

+ Sau khi Bộ Xây Dựng ban hành thông tư 09/2014/TT-BXD, ngày

10/7/2014, có hiệu lực từ ngày 01/9/2014 thì Sở Công Thương không thực hiện

thẩm tra hồ sơ thiết kế, thẩm tra hồ sơ nghiệm đối với các công trình có cấp điện áp

22kV.

- Khâu thi công công trình:

+ Đối với các công trình do đơn vị ngoài thi công và phụ thuộc vào khả

năng tài chính của khách hàng nên việc thực hiện đúng chỉ số tiếp cận điện năng là

rất khó.

+ Công trình đã thi công hoàn chỉnh nhưng khách hàng chưa có nhu cầu sử

dụng nên thời gian đóng điện kéo dài.

42

+ Chủ đầu tư thường ủy quyền cho Đơn vị thi công thực hiện từ khâu lập hồ

sơ đến khi đóng điện đưa vận hành nên thời gian thi công lắp đặt trạm thường kéo

dài.

+ Công tác lập hồ sơ quyết toán, hoàn công công trình của Đơn vị thi công

chưa chuẩn xác làm mất nhiều thời gian trong việc kiểm tra và nghiệm thu đóng

điện.

Kết quả thực hiện giải quyết cấp điện cho khách hàng trong năm 2014:

Trong năm 2014, Cty Điện lực Long An đã tiếp nhận 304 hồ sơ của khách

hàng đề nghị mua điện qua TBA chuyên dung, thời gian giải quyết từ khi khách

hàng nộp hồ sơ đến khi đóng điện đưa vào vận hành với thời gian như sau:

+ Thực hiện đóng điện dưới 70 ngày: có 198 công trình, chiếm tỷ lệ : 65%

+ Thực hiện đóng điện lớn hơn 70 ngày: 106 công trình, chiếm tỷ lệ: 25%.

Các công trình đóng điện lớn hơn 70 ngày chủ yếu là do: công trình đã thi

công hoàn chỉnh nhưng khách hàng chưa có nhu cầu sử dụng nên thời gian đóng

điện kéo dài; đơn vị ngoài thi công chậm tiến độ, thời gian chờ cắt điện đấu nối lưới

điện…

Các khó khăn gặp phải trong quá trình phê duyệt hồ sơ cấp điện khách

hàng trong giai đoạn này bao gồm:

+ Các công trình có chủ đầu tư là người nước ngoài nên thời gian thực hiện

ký kết hồ sơ giữa khách hàng và Điện lực thường rất chậm do phải đợi có mặt chủ

đầu tư.

+ Công tác thỏa thuận hướng tuyến, hành lang tuyến gặp khó khăn: phải

thỏa thuận với các hộ dân liên quan, chính quyền địa phương cơ quan quản lý

đường bộ, đường sông (nếu có) về vị trí trồng trụ, lộ giới,…

+ Chủ đầu tư công trình thực hiện bảng cam kết bảo vệ môi trường chậm

hoặc khó thực hiện nên ảnh hưởng đến tiến độ phê duyệt phương án cũng như đóng

điện nghiệm thu công trình.

+ Phải chờ Sở công Thương thẩm tra hồ sơ thiết kế, hồ sơ nghiệm thu.

+ Công trình thi công xong nhưng phải chờ lịch cắt điện để đấu nối.

43

Đánh giá:

Với quy định nêu trên, Công ty Điện lực Long An đã có chuyển biến theo

hướng tích cực trong việc rút ngắn thời gian giải quyết cấp điện thông qua TBA

chuyên dùng cho khách hàng nhằm đảm bảo chỉ số tiếp cận điện năng đúng theo

quy định (không quá 70 ngày). Tuy nhiên hiện cũng còn nhiều khách hàng vẫn còn

vượt hơn thời gian quy định là do các khó khăn nêu trên trong đó có công tác chờ

lịch cắt điện để đấu nối.

c) Năm 2015:

Thực hiện theo Nghị quyết số:19 NQ-CP, ngày 18 tháng 3 năm 2014 của

Chính phủ về việc bảo đảm rút thời gian tiếp cận xuống còn tối đa 70 ngày, Bộ

Công Thương ban hành Thông tư 33/2014/TT-BCT, ngày 10/10/2014 của Bộ Công

Thương (gọi tắt là Thông tư 33) quy định một số nội dung về rút ngắn thời gian tiếp

cận điện năng, trong đó quy định rõ thời gian giải quyết hồ sơ, trách nhiệm của các

bên liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng,

cụ thể là : thời hạn giải quyết các thủ tực liên quan trực tiếp đến ngành điện không

quá 18 ngày, thời gian giải quyết thủ tục liên quan đến cơ quan quản lý nhà nước

không quá 18 ngày. Do đó ngày 30/12/2014, Tổng Công ty Điện lực miền Nam đã

ban hành quy định số 3242/QĐ-EVN SPC của Tổng Công ty Điện lực miền Nam :

quy định cấp điện theo yêu cầu mua điện của khách hàng từ lưới điện trung áp và

rút ngắn chỉ số tiếp cận điện năng áp dụng trong Tổng công ty Điện lực miền nam

trên cơ sở áp dụng theo Thông tư 33 cụ thể như sau:

a) Thời hạn giải quyết các thủ tục liên quan trực tiếp đến ngành điện:

- Thời gian tiếp nhận hồ sơ: cùng ngày với ngày khách hàng nộp hồ sơ.

- Thời gian thỏa thuận đấu nối : trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ khi

nhận đầy đủ hồ sơ đề nghị mua điện theo quy định.

Tổng thời gian từ khi nhận đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp điện đến khi ký thỏa

thuận đấu nối không quá 5 ngày làm việc.

44

- Thời gian thỏa thuận thiết kế: trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ khi

tiếp nhận đầy đủ hồ sơ của khách hàng.

- Nghiệm thu đóng điện công trình: không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày

khách hàng gửi đủ hồ sơ đề nghị nghiệm thu khối lượng xây lắp hoàn thành công

trình và đóng điện nghiệm thu công trình.

Như vậy tổng thời gian giải quyết các thủ tục liên quan đến ngành điện

là 18 ngày

Bảng 2.2. Lưu đồ cấp điện khách hàng có trạm riêng [9]

SỐ

BƯỚC TÊN CÔNG VIỆC

THỜI

GIAN NGƯỜI THỰC HIỆN

BƯỚC 1

KHÁCH HÀNG:

- Gửi hồ sơ đề nghị cấp điện

cho Phòng GDKH Điện lực

huyện

- Gửi hồ sơ cho Sở Công

thương xác nhận phù hợp quy

hoạch

BƯỚC 2

0,5 ngày

PHÒNG GDKH ĐIỆN LỰC

- Kiểm tra tính hợp lệ của Hồ

- Lập biên nhận, hướng dẫn bổ

sung hồ sơ nếu còn thiếu, hẹn

ngày khảo sát

- Chuyển hồ sơ cho Phòng

KHKTVT - Điện lực hoặc

Phòng KHKT - Công ty Điện

lực theo phân cấp

45

BƯỚC 3

1,5 ngày

PHÒNG KHKT-

CTĐL/PHÒNG KHKTVT-

ĐL

- Khảo sát hiện trường

BƯỚC 4 3 ngày

PHÒNG KHKT-

CTĐL/PHÒNG KHKTVT-

ĐL

- Lập Phương án cấp điện

- Lập Biên bản Thoả thuận đấu

nối/Hoặc trả lời khách hàng

nếu không cấp điện được.

BƯỚC 5

Không quy

định thời

gian

KHÁCH HÀNG

- Thuê Đơn vị Tư vấn thiết kế

công trình

- Gửi Hồ sơ Thiết kế cho Điện

lực thoả thuận thiết kế

BƯỚC 6

3 ngày

PHÒNG GDKH

- Nhận và kiểm tra hồ sơ, đề

nghị bổ sung hồ sơ thiếu

- Chuyển hồ sơ cho Phòng

KHKTVT - Điện lực hoặc

Phòng KHKT - Công ty Điện

lực theo phân cấp

PHÒNG KHKT-

CTĐL/PHÒNG KHKTVT-

ĐL

- Xem xét hồ sơ

- Lập Văn bản Thoả thuận thiết

kế

46

BƯỚC 7

Không quy

định thời

gian

KHÁCH HÀNG

- Thuê nhà thầu thi công

- Hoàn chỉnh hồ sơ hoàn công

- Gửi đề nghị nghiệm thu cho

Điện lực

BƯỚC 8

10 ngày

PHÒNG GDKH

- Nhận và kiểm tra hồ sơ, đề

nghị bổ sung hồ sơ thiếu

- Chuyển hồ sơ cho Phòng

KHKTVT - Điện lực hoặc

Phòng KHKT - Công ty Điện

lực theo phân cấp

PHÒNG KHKT-

CTĐL/PHÒNG KHKTVT-

ĐL

- Xem xét hồ sơ hoàn công

- Tổ chức Hội đồng nghiệm thu

PHÒNG KINH DOANH ĐL

- Soạn thảo ký hợp đồng mua

bán điện

- Lắp đặt hệ thống đo đếm

ĐỘI QUẢN LÝ VẬN HÀNH

- Đăng ký cắt điện đấu nối

- Đóng điện công trình

TỔNG 18 ngày

b) Thời gian giải quyết các thủ tục liên quan trực tiếp đến Cơ quan

quản lý Nhà nước:

NGHIỆM THU ĐÓNG ĐIỆN

47

- Thời hạn thỏa thuận về sự phù hợp quy hoạch phát triển Điện lực của

Tỉnh: trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của Chủ đầu tư,

Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về sự phù hợp với

quy hoạch phát triển Điện lực.

- Thời hạn thảo thuận vị trí cột/trạm điện, hành lang lưới điện: không quá 5

ngày làm việc đối với lưới điện trung áp trên không và không quá 10 ngày làm việc

đối với lưới điện trung áp ngầm.

- Thời hạn giải quyết đối với thủ tục cấp phép thi công xây dựng công trình

điện: không quá 07 ngày làm việc đối với lưới điện trung áp trên không và không

quá 10 ngày làm việc đối với lưới điện trung thế ngầm.

Tổng thời gian thực hiện các thủ tục đối với cơ quan quản lý nhà nước

là không quá 18 ngày.

c) Phần việc khách hàng :

- Thực hiện thuê tư vấn thiết kế, chuẩn bị vật tư phương tiện, thi công công

trình.

- Ngành điện hỗ trợ, hướng dẫn khách hàng thực hiện các công việc liên

quan đến thủ tục với Cơ quan quản lý nhà nước sao cho đảm bảo thời gian quy định

theo Thông tư 33.

Kết quả thực hiện giải quyết cấp điện cho khách hàng trong năm 2015:

- Trong Quý I/2015 PCLA nhận và giải quyết cấp điện 125 hồ sơ Khách

hàng, trong đó:

+ Giải quyết hồ sơ đúng thời gian quy định theo Thông tư 33 ( là 36 ngày):

120 hồ sơ.

+ Chưa giải đúng quy định: 05 hồ sơ, nguyên do: các hồ sơ này chưa thỏa

thuận được vị trí hướng tuyến khi đi qua đất của chủ sở hữu khác.

Nhận xét đánh giá :

Từ khi có quy định mới (theo Thông tư 33) về rút ngắn chỉ số tiếp cận điện

năng với tổng thời gian giải quyết hồ sơ liên quan đến ngành điện và Cơ quan quản

lý nhà nước là 36 ngày, Công ty Điện lực Long An triển khai thực hiện, trình tự giải

48

quyết cấp điện với thời gian đúng theo quy định. Ý thức của các cán bộ công nhân

viện liên quan đến công tác cấp điện khách hàng đã có nhiều thay đổi tích cực, thực

hiện thời gian giải quyết hồ sơ theo đúng quy định đối với các thủ tục liên quan đến

ngành điện. Đồng thời Công ty cũng đã hổ trợ khách hàng đến Cơ quan quản lý Nhà

nước yêu cầu thực hiện công tác giải quyết thủ tục cấp điện liện quan đến phần nội

dung mà họ phụ trách nhằm thực hiện tốt công tác giải quyết hồ sơ khách hàng.

Tuy nhiên công tác giải quyết cấp điện cho khách hàng hiện nay vẫn còn

nhiều tồn tại, khó khăn đó là :

+ Đội ngũ cán bộ công nhân viên điện lực được giao nhiệm nhiệm vụ giao

dịch với khách hành nhận hồ sơ thường là cán bộ kỹ thuật được sử dụng lại tại đơn

vị, chưa được đào tạo kỹ năng giao tiếp khách hàng, chưa nắm rõ các quy định mới

ban hành... nên thường làm việc theo kinh nghiệm, thói quen, do đó rất cứng nhắc

trong quá trình giải quyết công việc, chưa thực sự làm khách hàng hài lòng.

+ Công việc thường xuyên tiếp xúc với khách hàng nhất là với đơn vị thi

công công trình bên ngoài nên dễ phát sinh nhiều vấn đề tiệu cực trong công tác giải

quyết hồ sơ.

+ Công việc giải quyết cấp điện khách hàng hàng có một số công việc, thủ

tục liên quan đến đến cơ quan quản lý nhà nước như xác nhận phù hợp với quy

hoạch lưới điện, thỏa thuận hướng tuyến với cơ quan quản lý đường bộ, đường

thủy, cấp phép thi công công trình... chưa quy định, phân công rõ đơn vị nào phụ

trách và giải quyết hồ sơ cho khách hàng nên dẫn đến khách hàng đi lại nhiều lần ở

nhiều cơ quan ( huyện, Tỉnh).

+ Hiện nay để đảm bảo cấp điện khách hàng đúng thời gian quy định thì

phải giải quyết cắt điện khách hàng đấu nối vào lưới điện thường xuyên điều này

làm ảnh hưởng đến cấp điện khách hàng hiện hữu đang sử dụng điện, ảnh hưởng

đến độ tin cậy cung cấp điện.

2.3.2. Độ tin cậy trong quá trình cung cấp điện :

a) Hiện trạng lưới điện 110kV:

49

Long An là một trong các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, phía

Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp Vương quốc

Campuchia, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang. Tổng

diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 4.491,87 km2. Trên địa bàn tỉnh có 1 thành

phố, 1 thị xã và 13 huyện, trong đó có 6 huyện nằm trong khu vực Đồng Tháp

Mười, địa hình trũng bao gồm Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thạnh

Hoá và Đức Huệ với diện tích đất tự nhiên là 298.243 ha. Các huyện còn lại là khu

vực phát triển khá ổn định và đa dạng.

Nằm ở vị trí bản lề giữa Đông và Tây Nam Bộ, giữa vùng trọng điểm phát

triển kinh tế phía Nam và cận kề với thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm sản xuất và

tiêu thụ hàng hoá lớn nhất cả nước, Long An có điều kiện thu hút vốn đầu tư trong

và ngoài nước. Với 137,7 km biên giới, Long An có điều kiện thuận lợi trong việc

trao đổi hàng hoá với Campuchia và các nước Đông Nam Á khác. Với cửa sông

Soài Rạp hướng ra biển Đông, Long An có khả năng phát triển công nghiệp, dịch vụ

vận tải, xuất nhập khẩu.

Hiện tại, khu vực tỉnh Long An trực tiếp nhận điện từ 15 TBA 110kV, bao

gồm (11 trạm thuộc tài sản EVN và 4 trạm thuộc tài sản khách hàng) với tổng dung

lượng 812 MVA, bao gồm:

Bảng 2.3: Các trạm 110kV trên địa bàn tỉnh Long An:[5] Stt Tên trạm Công suất

(MVA)

Phạm vi cấp điện Ghi chú

1 TBA 110kV Mộc Hóa 2x25 Các huyện Tân Thạnh; Mộc Hóa;

Tân Hưng; Vĩnh Hưng

2 TBA 110kV Thạnh Hóa 40 Các huyện Thạnh Hóa; Tân Thạnh

và 01 phần TP Tân An

3 TBA 110kV Tân An 40+40 TP Tân An; huyện Châu Thành;

Tân Trụ; Thủ Thừa.

4 TBA 110kV Long An 40 TP Tân An; huyện Châu Thành;

Thủ Thừa.

5 TBA 110kV Bến Lức 40+40 Huyện Bến Lức; một phần TP Tân

50

An và 01 phần huyện Đức Hòa

6 TBA 110kV Rạch Chanh 40+63

Huyện Bến Lức; Cần Đước; một

phần TP Tân An và 01 phần huyện

Đức Hòa.

7 TBA 110kV Cần Đước 16+40 Huyện Cần Đước và 01 phần

huyện Cần Giuộc

8 TBA 110kV KCN Long

Hậu 40

Huyện Cần Giuộc

9 TBA 110kV Đức Hòa 63+63 Huyện Đức Hòa

10 TBA 110kV Đức Lập 63 Huyện Đức Hòa

11 TBA 110kV Đức Huệ 63 Một phần huyện huyện Đức Hòa

và huyện Đức Huệ

12 TBA 110kV Chunsin 16 Công ty Chunsin Trạm

thuộc tài

sản khách

hàng.

13 TBA 110kV Formosa Công ty Formosa

14 TBA 110kV Chinlu 25 Công ty Chinlu

15 TBA 110kV XM Hà Tiên 16 Trạm nghiền xi măng Hà Tiên

Bảng 2.4: Tình trạng mang tải của các trạm 110kV trên địa bàn tỉnh

Long An: [5]

Stt Trạm 110kV MBA - Sđm Icp (A)

110kV

Icp (A)

22kV

Imax (A)

22kV % tải Ghi chú

1 Tân An T1- 40 MVA 201 1004 885 88,1 Đầy tải

T2- 40 MVA 201 1004 1060 105.6 Quá tải

2 Long An T1- 40 MVA 201 1004 1037 103,3 Quá tải

3 Đức Hòa T1- 63 MVA 326 1581 1554 98,3 Đầy tải

T2- 63 MVA 326 1581 1521 96,2 Đầy tải

4 Đức Huệ T1- 63 MVA 326 1581 750 47,4

5 Đức Lập T2- 63 MVA 326 1581 1373 86,8 Đầy tải

6 Bến Lức T1- 40 MVA 201 1004 824 82 Đầy tải

T2- 40 MVA 201 1004 905 90,1 Đầy tải

7 Rạch Chanh T1- 40 MVA 201 1004 795 50,4

T2- 63 MVA 326 1581 1138 72,8

8 Cần Đước T1- 40 MVA 201 1004 549 54,6

51

T2- 16 MVA 80 401 347 86,9 Đầy tải

9 Long Hậu T1- 40 MVA 201 1004 829 82,5

10 Mộc Hóa T1- 25 MVA 126 627 469 74,6

T2- 25 MVA 126 627 624 99,1 Đầy tải

11 Thạnh Hóa T1- 40 MVA 201 1004 574 57,2

a.1) Tại các huyện có phụ tải công nghiệp phát triển thì có từ 01

đến 2 trạm biếp áp 110kV, cụ thể:

- Khu vực huyện Đức Hòa có TBA 110kV gồm TBA 110kV Đức Hòa

(2x63MVA); TBA 110kV Đức Lập (1x63MVA).

- Huyện Bến Lức: được cấp điện từ 02 TBA gồm 110kV Bến Lức

(2x40MVA); TBA 110kV Rạch Chanh (40+63)MVA.

- Huyện Cần Giuộc: được cấp điện từ 02 TBA 110KV KCN Long Hậu

(1x40MVA); và TBA 110kV Cần Đước (16+40)MVA.

- Huyện Cần Đước: được cấp điện từ 02 TBA 110kV gồm: 110kV Rạch

Chanh (40+63)MVA và TBA 110kV Cần Đước (16+40)MVA.

- TP Tân An: được cấp điện từ 01 TBA 110kV Tân An (40+40MVA) và

Long An (40MVA)

Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng của các phụ tải công nghiệp luôn đạt ở mức

cao trong các năm qua nên hiện tại các TBA 110kV cấp điện cho khu vực công

nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đã vận hành trong tình trạng đầy tải, trong một số

thời điểm đã xảy ra quá tải cục bộ. Mặc khác khoảng cách các trạm 110kV xa nên

khi xảy ra sự cố hay cắt điện công tác một trạm biến áp thì các trạm còn lại trong

khu vực không thể san tải, hỗ trợ cấp điện cho trạm kia. Do đó khi một TBA 110kV

bị mất điện phạm vi mất điện thường lớn và thời gian mất điện thường kéo dài đến

khi khắc phục xong tình trạng mất điện trạm 110kV. Trong trường hợp có thể hỗ

trợ, san tải được một phần thì khu vực được hỗ trợ sẽ không đảm bảo chất lượng

điện áp cung cấp theo quy định, do đa số các trạm 110kV nằm cách xa nhau (trên

15km) dòng tải lớn sụt áp vượt ngưỡng cho phép.

a.2) Tại các huyện còn lại:

52

- Trên địa bàn tỉnh Long An hiện tại còn trường hợp nhiều huyện được cấp

điện từ một trạm biến áp 110kV, cụ thể:

+ Khu vực các huyện Mộc Hóa, Tân Hưng, Vĩnh Hưng: hiện tại được cấp

điện chung từ TBA 110kV Mộc Hóa. Riêng khu vực huyện Vĩnh Hưng; Tân Hưng

có đường biên giới giáp với nước Campuchia, được cấp điện bằng 02 phát tuyến

độc đạo hình tia, với bán kính cấp điện lớn nhất tại huyện Tân Hưng là trên 70 km.

Do đó khi xảy ra sự cố trạm 110kV Mộc Hóa hay cắt điện công tác thì toàn bộ khu

vực huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng sẽ mất điện và không có trạm biến áp

hay phát tuyến trung thế nào có thể hỗ trợ cấp điện. Thời gian mất điện phụ thuộc

hoàn toàn vào thời gian mất điện của trạm 110kV Mộc Hóa hay khắc phục các phát

tuyến xong, ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện cũng như an ninh quốc phòng

khu vực biên giới.

- Còn trường hợp một huyện được cấp điện từ TBA 110kV đặt tại huyện

lân cận, cấp điện bằng 02,03 phát tuyến độc đạo, cụ thể:

+ Khu vực huyện Châu Thành: được cấp điện từ 03 phát hình tia nhận điện

từ TBA Long An và Tân An đặt trên địa bàn Thành phố Tân An, với bán kính cấp

điện lớn nhất là trên 40km. Trong trường một trong hai trạm biến áp 110kV Long

An hay Tân An gặp sự cố thì khoảng hơn phân nửa huyện Châu Thành sẽ mất điện

do trạm biến áp còn lại không thể hỗ trợ cho trạm bị sự cố.

+ Khu vực huyện Đức Huệ: được cấp điện từ 02 phát hình tia nhận điện từ

TBA Đức Huệ đặt trên địa bàn huyện Đức Hòa, với bán kính cấp điện lớn nhất là

trên 35km. Trong trường trạm biến áp 110kV Đức Huệ mất điện thì toàn bộ khu vực

Đức Huệ sẽ mất điện và không có trạm biến áp hay phát tuyến trung thế nào có thể

hỗ trợ cấp điện. Thời gian mất điện phụ thuộc hoàn toàn vào thời gian mất điện của

trạm 110kV Đức Huệ ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện, cũng như an ninh

quốc phòng khu vực biên giới do có tiếp giáp với biên giới nước Campuchia.

+ Khu vực huyện Tân Trụ: được cấp điện từ 02 phát hình tia nhận điện từ

TBA Tân An đặt trên địa bàn TP Tân An, với bán kính cấp điện lớn nhất là trên

30km. Trong trường trạm biến áp 110kV Tân An gặp sự cố thì toàn bộ khu vực Tân

53

Trụ sẽ mất điện và không có trạm biến áp hay phát tuyến trung thế nào có thể hỗ trợ

cấp điện. Thời gian mất điện phụ thuộc hoàn toàn vào thời gian mất điện của trạm

110kV Tân An ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện trên địa bàn huyện.

+ Khu vực huyện Thủ Thừa: được cấp điện từ 02 phát hình tia nhận điện từ

TBA Tân An đặt trên địa bàn TP Tân An, với bán kính cấp điện lớn nhất là trên

20km. Trong trường trạm biến áp 110kV Tân An gặp sự cố thì toàn bộ khu vực Thủ

Thừa sẽ mất điện và không có trạm biến áp hay phát tuyến trung thế nào có thể hỗ

trợ cấp điện. Thời gian mất điện phụ thuộc hoàn toàn vào thời gian mất điện của

trạm 110kV Tân An ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện trên địa bàn huyện.

+ Khu vực huyện Tân Thạnh: được cấp điện từ 02 phát hình tia nhận điện

từ TBA Mộc hóa đặt trên địa bàn Thị xã kiến Tường, với bán kính cấp điện lớn nhất

là trên 25 km. Trong trường trạm biến áp 110kV Mộc Hóa mất điện thì toàn bộ khu

vực huyện Tân Thạnh sẽ mất điện và không có trạm biến áp hay phát tuyến trung

thế nào có thể hỗ trợ cấp điện. Thời gian mất điện phụ thuộc hoàn toàn vào thời

gian mất điện của trạm 110kV Mộc Hóa ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện

trên địa bàn huyện.

+ Khu vực huyện Thạnh Hóa: được cấp điện từ TBA Thạnh Hóa đặt trên

địa bàn huyện Thạnh hóa, khoảng cách từ trạm 110kV Mộc Hóa đến trạm 110kV

Thạnh hóa 45km và từ trạm 110kV Thạnh Hóa đến tạm 110kV Tân An 35 km

khoảng cách các trạm 110kV rất lớn. Trong trường trạm biến áp 110kV Thạnh hóa

mất điện thì toàn bộ khu vực Thạnh hóa sẽ mất điện và không có phát tuyến trung

thế nào có thể hỗ trợ cấp điện, do bán kính cấp điện xa, sụt áp lớn. Thời gian mất

điện phụ thuộc hoàn toàn vào thời gian mất điện của trạm 110kV Thạnh Hóa ảnh

hưởng đến chất lượng cung cấp điện trên địa bàn huyện.

Nhận xét đánh giá:

Tỉnh Long An gồm 01 Thành phố, 01 Thị xã và 13 Huyện do diện tích tỉnh

Long An khá rộng và trãi dài, Tổng số TBA 110kV thuộc tài sản Ngành điện là 11

trạm. Các trạm phân bố không đều tại các huyện, tuy nhiên số lượng các trạm biến

áp 110kV còn hạn chế và một số trạm đang đầy và quá tải, qua thống kê hiện nay có

54

7/11 trạm ( với 11/17 MBA) nguồn 110kV đang đầy, quá tải tập trung các khu vực

sản xuất công nghiệp, phụ tải xông thanh long, xay xát…, gồm các trạm: Đức Hòa,

Đức Lập, Long An, Mộc Hóa, Tân An... Các trạm biến áp còn lại mang tải trên 50%

định mức máy biến áp, bình quân mang tải các trạm 110kV đạt trên 65% tải. Do đó

trong quá trình vận hành còn gặp một số khó khăn, các trạm 110 kV không thể hỗ

trợ cấp điện qua lại cho nhau, ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện cho khách

hàng làm giảm độ tin cậy cung cấp điện.

b) Tình trạng mang tải của các phát tuyến 22kV của trạm 110kV

(chi tiết tại phụ lục 1)

Nhận xét, đánh giá:

Qua các thông số vận hành của các phát tuyến 22kV(phụ lục 1 đính kèm)

nhận thấy đa số các tuyến đều vận hành trong tình trạng đầy tải : có 30 xuất tuyến

trên 50% tải (có 09 tuyến từ 60% -- 69% tải, 11 tuyến từ 70%--79% tải, 05 tuyến

trên 80% tải dây). Do đó trong trường hợp các trạm biếp áp 110kV hay các phát

tuyến cùng khu vực bị sự cố hay cắt điện công tác thì không thể hỗ trợ cấp điện từ

phát tuyến kia. Phát tuyến nào bị sự cố thì khu vực đó sẽ bị mất điện, gây ảnh

hưởng đến chất lượng cung cấp điện.

Ngoài ra trên địa bàn Công ty quản lý còn nhiều khu vực cấp điện bằng các

phát tuyến 22kV hình tia và mang tải cao như: khu vực huyện Tân Hưng; Vĩnh

Hưng; Châu Thành; Đức Huệ; Tân Trụ... Các phát tuyến này đều vận hành đầy tải

nên khi xảy ra sự cố 01 phát tuyến thì các phát tuyến còn lại sẽ không thể san tải, hỗ

trợ cấp điện.

Mặt khác, hiện tại đa số các phát tuyến 22kV trên địa bàn tỉnh đều sử dụng

dây nhôm trần, bán kính cấp điện dài, đi qua khu vực địa hình nhiều cây cối, đông

dân cư nên thường xuyên xảy ra sự cố do vi phạm hành lang an toàn lưới điện, cây

va quẹt vào lưới điện hoặc các động vật như: rắn, chim, … leo lên lưới gây sự cố.

Khi xảy ra sự cố thì tốn rất nhiều thời gian để dò tìm, xác định nguyên nhân sự cố

55

(do phát tuyến dài, đi qua địa hình phức tạp, đi giữa đồng ruộng…). Do đó thời

gian mất điện thường kéo dài ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện.

c) Tình hình thực hiện suất sự cố và độ tin cậy cung cấp điện:

Từ khi Chính Phủ ban hành Thông tư 32 có quy định về chỉ số tin cậy cung

cấp điện (SAIDI; MAIFI; SAIFI) theo xu hướng ngày càng giảm để tăng chất lượng

điện năng cung cấp điện cho khách hàng, giảm đến mức thấp nhất thời gian, tần

xuất mất điện do công tác và sự cố gián đoạn cung cấp điện cho khách hàng. Thực

hiện theo chỉ đạo của Chính Phủ, trong các năm qua, Tổng Công ty Điện lực miền

Nam giao chỉ tiêu suất sự cố và độ tin cậy cung cấp điện cho Công ty Điện lực Long

An ngày càng giảm qua các năm.

Bằng nhiều giải pháp, Công ty Điện lực Long An thực hiện đạt các chỉ tiêu

suất sự cố và chỉ tiêu độ ổn định cung cấp điện do Tổng công ty Điện lực miền Nam

giao, cụ thể:

Bảng 2.5 Kết quả thực hiện chỉ tiêu suất sự cố .[5]

Kết quả thực hiện chỉ tiêu sự cố

(kế hoạch/thực hiện) Ghi chú

Thoáng qua Kéo dài

Năm 2012 144/209 (vụ) 48/68 (vụ)

Năm 2013 1,844/3,8 3,404/3,6 (Số vụ /100km)

Năm 2014 1,182/2,29 2,023/2,05 (Số vụ /100km)

Năm 2015 0,63 0,773 Chỉ mới giao chỉ tiêu, dang phấn đấu

thực hiện đạt chỉ tiêu giao

,n

56

Bảng 2.6 Kết quả thực hiện chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện:[5]

Stt Nội dung

Năm 2014 Năm 2013 Năm 2012

Kế hoạch

giao

Thực

hiện

Kế hoạch

giao

Thực

hiện

Kế

hoạch

giao

Thực

hiện

1 Mất điện do sự

cố

MAIFI (lần) 0,51 0,36 1,92 0,40 3,30

SAIDI (phút) 181,42 151,44 384,00 210,73 596,09

SAIFI (lần) 2,33 1,77 4,60 2,76 8,03

2 Mất điện có kế

hoạch

MAIFI (lần) 0,02 0,01 0,44 0,03 0,00

SAIDI (phút) 2.142,46 2.059,69 3.300,00 4.261,09 5.606,58

SAIFI (lần) 6,48 6,12 13,00 10,50 19,25

3 Tổng hợp các

trường hợp

MAIFI (lần) 0,57 0,38 2,36 0,75 3,30

SAIDI (phút) 3.266,97 2.506,43 4.200,00 3.646,54 6.206,67

SAIFI (lần) 11,02 9,23 22,00 12,22 27,28

Qua các số liệu trên, nhận thấy độ tin cậy cung cấp điện luôn tăng dần qua

từng năm. Thời gian mất điện khách hàng do nguyên nhân sự cố và mất điện có kế

hoạch năm 2014 đã giảm gần 2,5 lần so với năm 2015. Tuy nhiên thời gian mất điện

vẫn còn ở mức cao, cần phải thực hiện nhiều biện pháp để giảm hơn nữa thời gian

mất điện khách hàng, tăng độ tin cậy trong quá trình cung cấp điện.

Để đạt được kết quả trong việc tăng cường độ tin cậy cung cấp điện như trên,

trong các năm qua, Công ty Điện lực Long An đã triển khai thực hiện nhiều giải

pháp , kế hoạch cụ thể như sau:

c.1) Mất điện do bảo trì, sửa chữa lưới điện:

Công tác sữa chữa bảo trì lưới điện luôn được, Công ty Điện lực Long An

quan tâm triển khai thực hiện, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các khiếm khuyết

có thể dẫn đến sự cố lưới điện. Hàng năm, Công ty Điện lực Long An đều xây dựng

kế hoạch bảo trì lưới điện vào khoảng quý 4 của năm trước năm thực hiện và xác

định tiến độ hoàn thành bảo trì lưới điện là trước mùa mưa của năm sau nhằm hạn

chế sự cố xảy ra trên lưới điện, đặc biệt là sự cố xảy ra trong mùa mưa bảo.

57

Trong giai đoạn trước đây, khi chất lượng cung cấp điện chưa được quan

tâm thực hiện thì thời gian cắt điện để thực hiện bảo trì lưới điện hay công tác thi

công công trình chưa được quan tâm thực hiện. Việc hoàn thành công tác bảo trì, thi

công được đặt nặng hơn so với thời gian cắt, trả điện. Vì vậy, thời gian mất điện do

bảo trì, sửa chữa lưới điện hàng năm thường lớn do các nguyên nhân sau:

- Do ý thức lao động của một bộ phận không nhỏ cán bộ công nhân viên còn

chưa tốt, làm việc chưa thật sự nghiêm túc và chưa tuân thủ thời gian làm việc. Tiến

độ thực hiện công tác bản trì lưới điện chưa được quan tâm. Còn tư tưởng làm việc

từ từ hay không tính toán giữa khối lượng công việc với số người thực hiện công

việc nên công việc không thể hoàn tất đúng tiến độ đề ra nên không thể đóng điện

đúng theo kế hoạch đã đăng ký do đó việc đóng điện lại sau công tác thường trể hơn

so với kế hoạch. Hoặc có tư tưởng hôm nay không thực hiện xong hết toàn bộ khối

lượng công việc thì lần sau sẽ cắt điện tiếp tục thực hiện nên cắt điện đường dây có

khối lượng công việc rất lớn nhưng bố trí rất ít người thực hiện. Do đó số lần cắt

điện để bảo trì lưới điện trên một tuyến đường dây thường lớn, thời gian gián đoạn

cung cấp điện cho khách hàng thường kéo dài.

- Việc cung cấp vật tư thiết bị phục vụ công tác bảo trì lưới điện chưa thật sự

quan tâm, thường thiếu vật tư.Vật tư được cung cấp không đồng bộ, dẫn đến phải

cắt điện nhiều lần để thay thế vật tư trên lưới. Ví dụ trên 01 tuyến đường dây cần

thay một đoạn dây dẫn và sứ đứng tại một số vị trí. Tuy nhiên do việc cung cấp dây

dẫn và sứ đứng chưa đồng bộ nên phải thực hiện cắt điện 2 lần, một lần để thay

đoạn dây, một lần để thay sứ đứng.

- Mất điện do công tác lưới điện truyền tải: công tác bảo trì sữa chữa, thí

nghiệm lưới điện 110kV (bao gồm cả đường dây và trạm) chưa phối hợp với việc

bảo trì lưới điện 22kV. Nếu có chỉ mới dừng lại ở việc phối hợp bảo trì các phát

tuyến, đường trục chính, chưa thực hiện bảo trì toàn bộ lưới điện khu vực do trạm

110kV cấp điện (do nhân sự của các Điện lực có giới hạn, trong khi công việc phải

thực hiện rất nhiều, chưa chuẩn bị đầy đủ vật tư thiết bị…) Do đó thời gian mất điện

58

của khách hàng nhiều do phải cắt điện lưới 110kV và cắt điện lưới 22kV nên một

tuyến đường dây cắt điện nhiều lần.

- Các phát tuyến 22kV thường có chiều dài lớn. Việc bảo trì toàn bộ phát

tuyến đường dây đòi hỏi phải tốn nhiều nhân sự. Tuy nhiên do nhân lực của các

Điện lực còn hạn chế nên phải thực hiện bảo trì từng đoạn đường dây. Để hoàn tất

công tác bảo trì của một phát tuyến đòi hỏi phải cắt điện nhiều lần.

- Công tác bảo trì sữa chữa lưới điện định kỳ để giảm sự cố chưa thực hiện

tốt: khối lượng công việc lớn, phạm vi mất điện rộng nhưng bố trí nhân sự thực hiện

công tác ít, chuẩn bị vật tư thiết bị chưa đầy đủ. Do đó tại một khu vực, một tuyến

đường dây, một khách hàng bị cắt điện nhiều lần để phục vụ cho công tác bảo trì

lưới điện.

- Công tác thi công các công trình đầu tư xây dựng, sửa chữa lưới điện chưa

thực hiện tốt: để thi công hoàn tất một công trình phải thực hiện cắt điện nhiều lần,

không quan tâm đến số lần cắt điện, chưa chuẩn bị đầy đủ về nhân sự và vật tư thiết

bị để thi công. Do đó tại một khu vực, một tuyến đường dây, 1 khách hàng bị cắt

điện rất nhiều lần (cá biệt có công trình phải cắt điện hơn 10 lần mới thi công hoàn

tất)

Kể từ khi thông tư 32 của Bộ công thương quy định chỉ số độ tin cậy cung

cấp điện, tập Đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực miền Nam giao chỉ

tiêu thực hiện, để giảm thời gian mất điện do công tác bảo trì, sửa chữa lưới điện,

trong các năm qua, Công ty Điện lực Long An đã thực hiện các giải pháp:

- Giao nhiệm vụ cho người lao động công việc được giao, đồng thời trước

khi Điện lực đăng ký cắt điện về Công ty phê duyệt Điện lực phải thống kê khối

lượng công việc cần thực hiện trong ngày, công tác chuẩn bị vật tư thiết bị, phương

tiện thi công , số lượng người công tác. Do đó thời gian mất điện công tác có giảm

hơn so với trước đây, tuy nhiên vẫn còn nhiều trường hợp cắt trả điện chưa đúng

thời gian đã đăng ký, công tác thực hiện không đúng tiến độ đề ra vẫn còn cắt điện

nhiều lần để thực hiện do chưa có ban hành quy định, biện pháp chế tài thật nghiêm

túc chỉ dừng lại ở mức nhắc nhở hay xét lương sản phẩm.

59

- Phối hợp với Chi nhánh điện cao thế miền Nam trong công tác bảo trì lưới

điện 110kV và 22kV. Cụ thể: trong thời gian cắt điện để bảo trì lưới điện 110kV thì

Công ty Điện lực Long An cũng triển khai bảo trì lưới điện 22kV. Tuy nhiên hiện

nay tỉnh Long An là của ngõ đi từ Thành phố Hồ chí Minh về các tỉnh Miền Tây

nên các công trình lưới điện từ cấp điện áp 110 KV trở lên cũng đi ngang tỉnh Long

an rất nhiều do đó việc cắt điện để thi công lưới điện từ cấp điện áp 110KV trở lên

có giao chéo với lưới điện 22kV vẫn còn phải cắt điện lưới 22KV thường xuyên để

thi công đã ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện cho khác hàng.

- Tập trung nhiều nhân lực để bảo trì lưới điện 22kV bằng cách huy động

công nhân qua lại của các Điện lực để thực hiện bảo trì lưới điện (khi Điện lực cần

số người công tác vượt số người hiện có của đơn vị mình thì có thể đề xuất Công ty

huy động người của các Điện lực khác trong Công ty để phối hợp thực hiện công

tác ). Tuy nhiên công tác bảo trì chưa tốt do đơn vị khác đến thi công bảo trì lưới

điện không phải do mình quản lý nên có nhiều sai sót, bảo trì không đạt yêu cầu và

không đúng thời gian quy định.

- Tập trung nhiều nhân lực để thi công các công trình ĐTXD và SCL nhằm

hạn chế đến mức thấp nhất thời gian mất điện. Trước khi thi công công trình, Đơn

vị thi công phải lập lịch đăng ký cắt điện, với số lần cắt điện tối đa trên khối lượng

thực hiện để thi công một công trình để từ đó có kế hoạch cắt điện cho phù hợp.

Nhận xét đánh giá :

Với việc thực hiện hiện các giải pháp trên các năm qua công tác cung cấp

điện cho khách hàng trong Công ty có sự chuyển biến theo hướng tích cực rất rõ

nét, chỉ số tin cậy cung cấp điện được cải thiện, số lần mất điện, thời gian mất điện

giảm qua các năm và đạt kế hoạch Tổng công ty Điện lực Miền Nam giao.Tuy

nhiên vẫn còn các tồn tại cần khắc phục để nâng cao chất lượng cung cấp điện cho

khách hàng trong thời gian tới cụ thể :

+ Chưa có quy định biện pháp chế tài nghiêm túc trong việc chưa thực hiện

tốt công việc được giao và công việc cắt trả điện đúng giờ đã đăng ký.

60

+ Chưa có giải pháp hạn chế cắt điện cắt điện do công tác thi công lưới điện

có cấp điện áp từ 110 kV trở lên giao chéo lưới điện 22kV .

+ Công tác dự báo và lập kế hoạch và đăng ký nhu cầu vật tư hàng năm chưa

được các Điện lực quan tâm, chưa nắm sát nhu cầu vật tư cần thực hiện trong thời

gian tới nên dẫn đến việc mua sắm không được chính xác, nên dẫn đến trong quá

trình sử dụng có các loại vật tư thừa nhưng lại có các loại vật tư lại thiếu.

+ Khu vực mất điện công tác còn rộng do: khi cắt điện công tác khả năng

chuyển tải các trạm 110 kv qua lại còn hạn chế do các trạm 110kV đầy và các phát

tuyến 22kV đang đầy và quá tải, các lưới điện hình tia độc lập không có mạch vòng

hay nguồn khác cấp đến hỗ trợ.

c.2) Mất điện do sự cố trên lưới điện:

Áp lực cung cấp điện liên tục cho khách hàng ngày càng tăng cao từ phía

Chính Phủ, Tập Đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Điện lực miền Nam. Song

song với các giải pháp hạn chế cắt điện phục vụ thi công, sửa chữa lưới điện, công

tác giảm sự cố lưới điện luôn được quan tâm thực hiện, từng bước giảm sự cố lưới

điện qua từng năm, tăng cường tính ổn định, chất lượng cung cấp điện.

Trong các năm qua, Công ty Điện lực Long An đã thực hiện một số giải pháp

nhằm hạn chế sự cố trên lưới điện trung thế, cụ thể như sau:

- Do các đường dây trung thế hiện hữu chủ yếu sử dụng dây trần nên để hạn

chế sự cố do phóng sứ, động vật leo lên lưới điện, trong thời gian qua Công ty Điện

lực Long An đã thực hiện thay các đà sắt hiện hữu bằng đà composite tại các khu

vực đầu phát tuyến các trạm 110kV. Các năm qua sử dụng đà composite đã đạt

được một số hiệu quả nhất định, sự cố giảm dần qua từng năm, chất lượng cung cấp

điện an toàn liên tục ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên do chưa đánh giá được sự

lão hóa của đà composit khi đưa ra môi trường nhiệt đới như ở Việt nam nên trong

giai đoạn hiện tại Công ty còn áp dụng hạn chế.

- Tại các khu vực ô nhiễm, khu vực nhiễm mặn sử dụng sứ đứng 24kV

thường xảy ra sự cố phóng sứ cách điện, nhất là phóng bề mặt sứ. Để hạn chế sự cố

phóng sứ tại các khu vực này, Công ty Điện lực Long An đã thực hiện thay thế các

61

sứ đứng 24kV bằng các sứ đứng cách điện áp 36kV. Qua đó đã làm giải sự cố tại

các khu vực có điều kiện môi trường nhiễm bẩn, nhiễm mặn.

Ngoài ra, trong các năm qua, Tổng Công ty Điện lực miền Nam đã ban hành

bộ tiêu chuẩn vật tư thiết bị theo hướng tăng cường cách điện, tăng chiều dài đường

rò của các vật tư thiết bị, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các sự cố trên lưới điện.

Hiện tại Công ty Điện lực Long An đang áp dụng và thực hiện nghiệm thu các vật

tư, thiết bị đúng theo tiêu chuẩn của Tổng Công ty ban hành trước khi lắp đặt trên

lưới điện.

- Công ty Điện lực Long An luôn phát động phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ

thuật trong toàn bộ cán bộ công nhân viên. Qua đó sẽ công nhận một số sáng kiến

có tác dụng ngăn ngừa sự cố trên lưới điện như lắp quặng chống rắn, ốp tôn thân trụ

ở khu vực lưới điện nông thôn. Công ty Điện lực Long An đã phỗ biến rộng rãi sáng

kiến cho các Đơn vị trực thuộc để tổ chức lắp đặt trên địa bàn quản lý của mình.

Qua đó, góp phần giảm sự cố trên lưới điện do rắn, tăng cường chất lượng cung cấp

điện cho khách hàng.

- Theo quy định tại Thông tư 32 có quy định khách hàng có trách nhiệm thực

hiện bảo trì, bảo dưỡng lưới điện thuộc tài sản khách hàng. Để hạn chế các sự cố bắt

nguồn từ sự cố đường dây thuộc tài sản khách hàng, Công ty Điện lực Long An đã

tổ chức vận động khách hàng thực hiện bảo trì lưới điện. Tuy nhiên còn nhiều khách

hàng không thực hiện bảo trì lưới điện theo quy định, gây sự cố lưới điện ảnh hưởng

tới lưới điện của Công ty đang quản lý nhưng hiện tại vẫn chưa có chế tài để bắt

buộc khách hàng thực hiện bảo trì lưới điện.

- Để hạn chế sự cố trên diện rộng lưới điện, Công ty Điện lực Long An đã

thực hiện tính toán, lắp đặt các thiết bị đóng cắt lặp lại (Recloser), khoanh vùng sự

cố thuận lợi trong công tác dò tìm, giải trừ sự cố thoáng qua. Đồng thời có tính toán

phối hợp bảo vệ giữa các thiết bị bảo vệ có tính phối hợp và chọn lọc trên lưới sao

cho sự cố xảy ra thiệt bị bảo vệ gần nhất sẽ được tác động trước. Tuy nhiên hiện tại

số lượng recloser của Công ty còn ít, chỉ lắp đặt ở đầu các phát tuyến lộ ra trạm

110kV để ngăn chặn sự cố gây ảnh hưởng đến trạm 110kV và chỉ có thực hiện chức

62

năng bảo vệ là chính, việc thao tác đóng cắt hay xem các thông số ghi nhận sự kiện

sự cố thì phải đến thao tác trực tiếp trên tủ điều khiển tại hiện trường dẫn đến việc

điều tra sự cố mất nhiều thời gian.

- Trong quá trình, phát triển phụ tải mới, Công ty Điện lực Long An luôn

thực hiện đúng theo các quy định kỹ thuật lưới điện do Tổng Công ty Điện lực miền

Nam ban hành. Tùy theo điều kiện phụ tải mà có lắp đặt thiết bị bảo vệ cho phù hợp

từ đó góp phần giảm sự cố lan truyền từ trạm khách hàng lên lưới điện Ngành điện.

- Để giảm sự cố mất điện do vi phạm hành lang an toàn lưới điện cao áp

(HLATLDCA) Công ty đã triển khai các giải pháp: giao cán bộ quản lý lưới điện

theo khu vực quản lý trong đó có gắn trách nhiệm với tiền lương trong việc kiểm tra

phát hiện xử lý vi phạm HLATLDCA như : các công trình kiến trúc, cây cói nằm

trong hành lang lưới điện có khả năng gây sự cố …, có kiểm tra phúc tra của lãnh

đạo Điện lực về thực hiện nhiệm vụ được giao. Đồng thời thường xuyên tuyên

truyền bảo vệ HLATLDCA bằng nhiều hình thức như: treo các hình ảnh tại các khu

vực đông dân cư, tuyên truyền trên báo đài địa phương để người dân hiểu về việc

các hành vi vi phạm HLATLDCA để không vi phạm từ đó góp phần giảm sự cố

lưới điện. Tuy nhiên do lưới điện là dây trần nên vẫn còn nhiều sự cố do vi phạm

hành lang an toàn lưới điện cao áp gây sự cố mà không lường trước được.

Nhận xét đánh giá :

Trong thời gian qua Công ty đã thực hiện hiện các giải pháp giảm sự cố nêu

trên nên tình hình sự cố lưới điện qua các năm điều giảm và thời gian mất điện do

sự cố giảm dần, độ tin cậy cung cấp điện cho khách hàng ngày được nâng cao. Tuy

nhiên vẫn còn tình trạng cắt điện đột xuất, sự cố mất điện lang rộng, thời gian mất

điện còn kéo dài do các nguyên nhân như:

1. Hiện tượng nóng đỏ phát nhiệt tại của các mối nối, vị trí tiếp xúc … nhất là

các phát tuyến đường dây mang tải cao, phải cắt điện để xử lý.

2. Hiện tại còn nhiều khách hàng không thực hiện bảo trì lưới điện theo quy

định Thông tư 32, nhưng vẫn chưa có chế tài để bắt buộc khách hàng thực hiện bảo

63

trì lưới điện dẫn đến vẫn còn sự cố lưới điện khách hàng làm mất điện đã ảnh hưởng

đến chất lượng cung cấp điện cho các khách hàng khác.

3. Hiện tại lưới điện trên địa bàn quản lý đa là dây trần nên độ tin cậy cung cấp

điện không cao thường xảy ra sự cố do nhiều nguyên nhân khác nhau.

4. Chưa lắp đặt Recloser đầy đủ để chia nhỏ khu vực mất điện khi có sự cố xảy

ra và chưa khai thác được các dữ liệu từ xa của các Recloser để phục vụ cho công

tác điều tra sự cố.

5. Khu vực mất điện sự cố còn rộng do: các trạm 110 kV và các phát tuyến

22kV đang vận hành đầy và quá tải nên còn hạn chế việc chuyển tải qua lại khi có

sự cố và các lưới điện 22 kv hình tia độc lập không có mạch vòng nên không được

nguồn khác cấp điện hỗ trợ.

c.3) Cắt điện để đấu nối các phụ tải mới:

Bên cạnh việc đảm bảo cấp điện cho khách hàng với độ tin cậy ngày càng

cao thì Công ty Điện lực Long An còn phải đảm bảo sớm cấp điện cho các khách

hàng có nhu cầu sử dụng điện. Do đó để đấu nối các phụ tải mới thì cần cắt điện các

phát tuyến trung thế, trục chính, ảnh hưởng đến các phụ tải khác đang sử dụng điện.

Cá biệt có nhiều phát tuyến trung thế mỗi năm phải đấu nối từ 10 đến 15 phụ tải

mới do đó phải thường xuyên cắt điện. Để hạn chế việc cắt điện để đấu nối các phụ

tải mới, trong các năm qua, Công ty Điện lực Long An đã thực hiện các giải pháp:

- Tập hợp một số khách hàng cần đấu nối mới trên cùng một nhánh rẽ, phát

tuyến để cắt điện, đấu nối đồng loạt, giảm số lần mất điện trên đường trục các phát

tuyến .

- Kết hợp công tác đấu nối khách hàng mới với công tác sửa chữa cải tạo lưới

điện trung thế (công tác có cắt điện).

Nhận xét đánh giá :

Trong thời gian qua Công ty đã thực hiện các giải pháp trên nên phần nào đã

giảm thời gian và số lần mất điện để đấu nối lưới điện cấp điện cho khách hàng mới

góp phần nhằm nâng cao khả năng cung cấp điện cho khách hàng.

64

Tuy nhiên công tác giải quyết cấp điện cho khách hàng hiện nay vẫn còn gặp

nhiều khó khăn do phải đăng ký và chờ kết hợp lịch cắt điện các đường dây trung

thế đấu nối trong khi đó theo quy định Thông tư 33 để đảm bảo chỉ số tiếp cận điện

năng thì trong thời gian 10 ngày kể từ khi công trình thi công hoàn tất, khách hàng

yêu cầu nghiệm thu đóng điện thì Ngành điện phải thực hiện đấu nói và đóng điện

cho khách hàng sử dụng. Khi đó Công ty vừa đảm bảo chỉ số tiếp cận điện năng,

vừa đảm bảo chỉ số độ tin cậy cung cấp điện. Đây là 2 mặt trái nhau của một vấn đề

mà Công ty Điện lực Long An cần phải có hướng giải quyết nhằm thực hiện tốt

công tác cung cấp điện cho khách hàng trong thời gian tới.

Tóm tắt và kết luận chương II:

Những nội dung nghiên cứu ở chương II có thể khái quát như sau:

- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Điện lực Long An; Tình

hình cung cấp điện trên địa bàn tỉnh Long An.

- Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung cấp điện đã thực hiện

trong thời gian qua tại Công ty Điện lực Long An, và kết quả đạt được của những

giải pháp đó.

- Nhận định tổng quan về chất lượng cung cấp điện tại Công ty Điện lực

Long An, cụ thể: Trong các năm qua với sự nổ lực phấn đấu của lãnh đạo vào toàn

thể CBCNV toàn Công ty Điện lực Long An trong công tác cung cấp điện đã cơ bản

đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của người dân trên địa bàn quản lý, góp phần phát

triển kinh tế- xã hội tỉnh Long An và hoàn thành tốt các nhiệm vụ sản xuất kinh

doanh mà Tổng công ty Điện lực Miền Nam giao. Bên cạnh các thành quả đạt được

trong thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại trong công tác cung cấp như: tình hình đầy

tải các trạm 110 kV và các phát tuyến 22kV, tình hình sự cố lưới điện khách hàng,

tình hình cắt điện để đấu nối lưới điện khách hàng... đã và đang ảnh hưởng đến chất

lượng cung cấp điện cho khách hàng. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện khách hàng

với chất lượng cao, dịch vụ ngày càng hoàn hoản, nhất là phấn đấu đến năm 2020

65

dịch vụ cung cấp điện của Việt Nam phải ngang bằng với các nước trong khu vực

thì Công ty cần phải thực hiện nhiều giải pháp ngắn hạn và lâu dài, có tính đột phá

và phải thực hiện quyết liệt mới có thể đạt được. Đây là một thách thức mà Công ty

cần phải quan tâm và thực hiện trong thời gian tới.

Những nhận định về các mặt đã và chưa đạt được về chất lượng cung cấp

điện được nêu trong chương II sẽ là căn cứ để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao

chất lượng cung cấp điện ở chương III.

66

CHƯƠNG III

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ

CUNG CẤP ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC LONG AN

3.1. Quan điểm và định hướng chung.

Trong các năm qua, chất lượng dịch vụ cung cấp điện tại Công ty Điện lực

Long An đã từng bước được cải thiện, thời gian giải quyết cấp điện cho khách hàng

sản xuất và các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện đã giảm dần qua từng năm. Thời

gian giải quyết cấp điện cho khách hàng sản xuất từ 70 ngày xuống còn 36 ngày,

tổng thời gian mất điện do công tác và sự cố giảm từ 6.206,67 phút năm 2012

xuống còn 3.266,97 phút năm 2014. Tuy nhiên, thời gian gian giải quyết cấp điện

cho khách hàng trong thời gian tới cần phải tiếp tục giảm; thời gian mất điện khách

hàng hiện tại vẫn còn khá cao, theo kế hoạch 2015 phải thực hiện giảm xuống còn:

1.521,4 phút và theo lộ trình đến năm 2020 Tập đoàn Điện lực Việt Nam phải thực

hiện thời gian mất điện trong một năm là khoảng 400 phút thì chỉ số này Công ty

điện lực Long An phải thực hiện thấp hơn. Do đó để nâng cao chất lượng cung cấp

điện cho khách hàng trong thời gian hiện tại cũng như theo định hướng của Tập

đoàn Điện lực Việt Nam trong thời gian tới, Công ty điện lực Long An cần phải nổ

lực phấn đấu hơn nữa trong việc thực hiện công tác này.

Thực hiện theo định hướng của Tập đoàn, Tổng Công ty Điện lực miền Nam và

thực trạng lưới điện, Công ty Điện lực Long An cần xây dựng kế hoạch, triển khai

thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện bao

gồm: thực hiện tốt hơn nữa công tác phát triển khách hàng theo đúng trình tự và

thời gian quy định của Chính, phủ, Bộ Công thương; Triển khai các giải pháp nhằm

nâng cao chỉ số độ tin cậy trong quá trình cung cấp điện. Các giải pháp cụ thể như

sau:

67

3.2. Các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện khách

hàng.

3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao việc thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng

đối với các khách hàng có nhu cầu lắp đặt mới đường dây trung thế và

trạm biến áp chuyên dùng.

Trên cơ sở các công việc đã thực hiện được trong thời gian qua như: tiếp tục duy

trì thực hiện đúng thời gian giải quyết các hồ sơ thủ tục cấp điện theo yêu cầu mua

điện của khách hàng từ lưới điện trung áp để rút ngắn chỉ số tiếp cận điện năng theo

quy định của Tổng công ty Điện lực Miền Nam trên cơ sở áp dụng theo Thông tư

33. Bên cạnh những mặt làm được cũng còn tồn tại những vấn đề như : Trình độ

cán bộ làm công tác giao tiếp khách hàng chưa được đào tạo; thủ tục giải quyết hồ

sơ chưa được nêm yết công khai rộng rãi, quy định rõ ràng dể phát sinh tiêu cực;

chưa có quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước nào phụ trách giải quyết hồ sơ... Để

rút ngắn thời gian giải quyết cấp điện cho khách hàng trong thời gian tới, Công ty

cần thực hiện các giải pháp sau:

a) Thực hiện tốt công tác dịch vụ khách hàng :

- Tổ chức phổ biến Quy định số 3242/QĐ-EVN SPC của Tổng công ty Điện

lực miền Nam về việc thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng và các biểu mẫu kèm theo

quy định đến các Điện lực trực thuộc để các Điện lực phổ biến đến toàn thể

CBCNV trong đơn vị nhất là bộ phận giao tiếp khách hàng nắm rõ và thực hiện.

- Chỉ đạo các Điện lực niêm yết công khai lưu đồ cấp điện, các phụ lục,

biểu mẫu ban hành kèm theo quy định cấp điện tại các phòng giao dịch Khách hàng

và trên Website của Đơn vị để khách hàng dễ tìm hiểu, thực hiện và giám sát.

- Công ty Điện lực Long An cần thường xuyên thực hiện cập nhật các quy

định, biểu mẫu về công tác phát triển khách hàng lên Website của Công ty, Sở Công

thương, Sở Kế hoạch và đầu tư, nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng trong công tác

đăng ký phụ tải. Qua đó hạn chế những bỡ ngỡ, sai sót từ phía khách hàng, góp

phần giảm thời gian hiệu chỉnh hồ sơ, rút ngắn thời gian phê duyệt phụ tải.

68

- Thường xuyên kiểm tra các Điện lực trong việc thực hiện công tác dịch vụ

khách hàng, trong đó có nội dung thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng để từ đó có

chấn chỉnh kịp thời nhằm mục đích nâng cao công tác dịch vụ cung cấp điện.

- Công tác phát triển khách hàng có đặc thù nhạy cảm, tiếp xúc trực tiếp với

khách hàng, các Đơn vị thi công, dễ phát sinh tiêu cực nên ngoài việc đào tạo, nâng

cao trình độ chuyên môn, Công ty Điện lực Long An cần thường xuyên tổ chức

quán triệt tư tưởng phòng chống tham nhũng đến các cán bộ phụ trách công tác.

Định kỳ 06 tháng cần thực hiện hoán đổi công tác đối với các cán bộ phụ trách công

tác giao tiếp khách hàng.

- Tổ chức cho khách hàng đánh giá sự hài lòng khách hàng thông qua hộp

thư góp ý, nhận xét đánh giá trực tiếp nhân viên giao tiếp khách hàng trên máy tính

được bố trí tại phòng giao dịch khách hàng đối với nhân viên phụ trách giao dịch để

từ đó lãnh đạo đơn vị có theo dõi, chấn chỉnh kịp thời.

b) Kiến nghị UBND tỉnh sớm ban hành quy định thời gian và Cơ quan giải

quyết hồ sơ cấp điện liên quan trực tiếp đến Cơ quan quản lý Nhà nước.

- Công ty cần kiến nghị UBND tỉnh sớm ban hành quy định thời gian, trách

nhiệm giải quyết hồ sơ liên quan đến việc hiện rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng

theo quy định tại Thông tư số 33/2014/TT-BCT ngày 10/10/2014 của BCT. Trong

đó cần quy định rõ cơ quan, đơn vị nào xác nhận sự phù hợp với quy hoạch lưới

điện, Cơ quan nào xác nhận thỏa thuận hướng tuyến lưới điện, cấp phép xây dựng

công trình…và thời gian hoàn trả hồ sơ.

Ngoài ra trong quá trình thực hiện công tác, Công ty thường xuyên có báo

cáo UBND Tỉnh, Sở Công thương về các khó khăn gặp phải, đồng thời đề nghị

UBND tỉnh chỉ đạo các Sở Ngành, UBND các Huyện, TP, TX phối hợp giải quyết

các khó khăn nhằm tạo điều kiện tốt nhất để khách hàng sớm có điện phục vụ sản

xuất.

c) Thực hiện công tác đào tạo, tổ chức các cuộc thi để nâng cao trình độ

chuyên môn, năng lực quản lý và phục vụ của đội ngũ nhân viên nhân viên

giao tiếp khách hàng.

69

Với chủ trương xem công tác giải quyết hồ sơ, phê duyệt phụ tải các khách

hàng là một trong những nội dung quan trọng trong việc đánh giá chất lượng cung

cấp điện, trong đó cán bộ phụ trách công tác được xem như là bộ mặt, là đại diện

Công ty để giải quyết hồ sơ của khách hàng, do đó Công ty Điên lực Long An cần

quan tâm thực hiện công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ, cụ

thể:

- Hàng năm tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng giao tiếp khách hàng, cập

nhật và nâng cao trình độ chuyên môn đối với các cán bộ làm công tác phát triển

khách hàng. Qua đó, đã phổ biến các quy định mới liên quan đến công tác, giải đáp

các thắc mắc, chia sẽ kinh nghiệm, các khó khăn thường gặp để cán bộ làm công tác

nắm vững hơn quy định nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn công việc được giao.

- Tổ chức các cuộc thi giao tiếp khách hàng giỏi, phát động phong trào cuộc

thi viết, nói về các giải pháp nâng cao công tác dịch vụ khách hàng tại Công ty để

các đơn vị và CBCNV có động lực học tập, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao ý thức

trách nhiệm được giao.

d) Ứng dụng tốt công nghệ thông tin vào công tác quản lý chất lượng dịch

vụ cung cấp điện:

Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, chăm sóc khách hàng từ

lâu đã trở thành yêu cầu cấp thiết của Tổng Công ty Điện lực miền Nam nói chung

và PCLA nói riêng. Với số lượng khách hàng ngày càng tăng, nhu cầu được cấp

điện ổn định ngày càng cao, không nghi ngờ gì khi khẳng định công nghệ thông tin

là một trong các yếu tố quan trọng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao năng

suất lao động, cải tiến dịch vụ, nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng. Việc ứng

dụng CNTT cần được PCLA quan tâm cải tiến và áp dụng vào ngay trong thực tiễn,

hỗ trợ tích cực hơn trong công tác quản lý chất lượng dịch vụ khách hàng, cụ thể:

- Áp dụng rộng rãi hệ thống thu thập dữ liệu đo ghi khách hàng từ xa để có

thể giám sát các thông số vận hành của khách hàng nhằm phát hiện nhanh các

trường hợp chất lượng điện năng kém (điện áp cao, thấp hơn so quy định, thiếu bù,

70

dư bù gây tổn thất…) để tổ chức khắc phục kịp thời trước khi có sự cố xảy ra đảm

bảo cung cấp điện an toàn, ổn định cho khách hàng.

Nhân rộng công nghệ đọc chỉ số điện từ xa cho tất cả các khách hàng nhằm

đảm bảo tính chính xác, tiết giảm nhân công ghi chỉ số công tơ và in hóa đơn tiền

điện, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng năng suất lao động.

Kết luận:

Với việc áp dụng giải pháp trên sẽ giúp khách hàng dể tiếp cận các thủ tục

cấp điện, đồng thời giúp Công ty giải quyết nhanh thủ tục cấp điện, nâng cao khả

năng phục vụ khách hàng, giảm thời gian tiếp cận điện năng, đáp ứng được kịp thời

yêu cầu sử dụng của khách hàng .

Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác phát triển phụ tải mới, để nâng cao

dịch vụ cung cấp điện khách hàng, thì cần phải tăng cường độ ổn định trong quá

trình cấp điện đối với các phụ tải đang sử dụng điện. Để làm tốt công tác này

Công ty Điện lực Long An cần phải thực hiện xây dựng các giải pháp nâng cao

độ ổn định cung ấp điện cho khách hàng, cụ thể:

3.2.2. Giải pháp 2: giảm thời gian mất điện do bảo trì, sửa chữa lưới

điện.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp đã triển khai thực hiện trong thời gian qua

đang mang lại hiệu quả như: xây dựng kế hoạch bảo trì, sửa chữa lưới điện phù hợp;

kết hợp cắt điện lưới trung thế với lưới 110kV để công tác; kết hợp nhiều Đơn vị thi

công trong một lần cắt điện công tác... Qua đánh giá đã đạt được kết quả tốt, chỉ số

độ tin cậy cung cấp điện luôn chuyển biến theo chiều hướng giảm qua từng năm.

Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như: chưa có các quy định chặt chẽ và biện pháp

chế tài nghiêm túc trong thực hiện công tác bảo trì lưới điện; còn cắt điện nhiều để

thi công kéo dây lưới điện có điện áp 110kV trở lên; công tác cấp phát vật tư chưa

được tốt...đã ảnh hưởng đến việc cung cấp điện, do đó để nâng cao dịch cụ cung cấp

điện và hạn chế các tồn tại trên trong thời gian tới Công ty cần thực hiện các nội

dung sau:

71

a) Ban hành quy định trong công tác bảo trì lưới điện, cụ thể: mỗi tuyến đường

dây chỉ được cắt điện 01 lần trong năm để bảo trì. Công tác bảo trì lưới điện phải

được hoàn thành trước 30 tháng 04 hàng năm nhằm hạn chế các sự cố xảy ra do

mưa, sét...Quy định, trước khi Điện lực đăng ký cắt điện về Công ty phê duyệt các

Điện lực rà soát kết hợp với nhiều công tác trên lưới điện, phải nêu cụ thể khối

lượng công việc cần thực hiện trong ngày, công tác chuẩn bị vật tư thiết bị, phương

tiện thi công, số lượng người tham giao công tác, thời gian dự kiến cắt điện và trả

điện. Các phòng Kế hoạch – kỹ thuật và phòng Điều độ, phòng Vật tư có trách

nhiệm phối hợp xem xét từng trường hợp cụ thể trước khi trình lãnh đạo Công ty

phê duyệt phương án cắt điện. Có quy định cụ thể biện pháp xử lý trách đối với các

Điện lực và các Phòng, ban thực hiện không tốt trong việc đăng ký và trình duyệt

phương án cắt điện làm ảnh hưởng không tốt đến việc cung cấp điện.

b) Xây dựng và ban hành quy định chấm điểm theo công việc được giao để

phục vụ cho các kỳ nâng lương và thực hiện áp dụng nghiêm túc quy định này trong

việc thực hiện công việc được giao và công việc cắt trả điện, nhằm nâng cao ý thức

của người lao động, nâng cao chất lượng công việc trong công tác bảo trì lưới điện,

cụ thể là : đối với Công nhân trực tiếp sản xuất và cán bộ làm công tác lập kế hoạch

cắt điện, hàng quý Công ty phối hợp Điện lực tổ chức đoàn chấm điểm công tác đã

thực hiện hiện trong quý đó của cán bộ công nhân viên thực hiện công việc, nhiệm

vụ được giao. Chất lượng công việc bảo trì, lắp đặt, được xem là điểm kỹ thuật, và

bắt buộc phải thực hiện đạt 100% số điểm nếu không đạt thì sẽ xem xét không được

nâng lương trong kỳ nâng lương tiếp theo. Đối với Lãnh đạo Điện lực nếu để xảy ra

việc trả điện trể so với kế hoạch sẽ có nhắc nhở, nếu để tiếp diễn lập lại thì sẽ phê

bình và đưa vào công tác xét thi đua khen thưởng hàng năm.

c) Công ty cần xem xét thật kỹ các giải pháp kỹ thuật trước khi duyệt cắt điện

công tác đối với việc kéo dây lưới điện có cấp điện áp từ 110kV trở lên có giao chéo

với lưới điện 22kV, áp dụng các giải pháp bọc hóa lưới điện trung thế hay các giải

pháp che chắn lưới điện 22kV trong quá trình thi công kéo dây. Chỉ cắt điện trung

72

thế 22kV đối với những trường hợp thật sự cần thiết, không thể bọc hóa lưới điện

trung thế hay che chắn được.

d) Thực hiện tốt công tác lập kế hoạch và cung cấp vật tư thiết bị đảm bảo

cung cấp đầy đủ vật tư cho một lần cắt điện, hạn chế cắt điện nhiều lần do thiếu vật

tư.Trong công tác lập kế hoạch mua sắm vật tư cần thực hiện các yêu cầu sau:

Trước năm kế hoạch yêu cầu các điện lực lập kế hoạch nhu cầu vật tư năm sau và

đăng ký về Công ty, trên cơ sở đó bộ phận vật tư lập kế hoạch mua sắm 6 tháng/

lần, đồng thời nhận vật tư theo nhu cầu thực tế từng đợt để vừa giảm tổn kho, vừa

đáp ứng nhu cầu sử dụng đồng thời có thể điều chỉnh số lượng và chủng loại cho

phù hợp khi có thay đổi trong quá trình thực hiện.

Kết luận:

Với việc áp dụng các giải pháp trên giúp Công ty kiểm soát và thực hiện tốt

công tác cắt trả điện hạn chế mất điện khách hàng do công tác, góp phần nâng cao

độ tinh cậy cung cấp điện.

3.2.3. Giải pháp 3: giảm sự cố và thời gian mất điện do sự cố.

Để giảm sự cố trên lưới điện Công ty cần tiếp tục thực hiện các giải pháp đang

thực hiện như: giám sát chặt chẽ chất lượng các vật tư thiết bị lưới điện trước khi

đưa lên lưới; thực hiện bố trí và tái bố trí thiết bị đóng cắt tự đóng lại; áp dụng các

biện pháp giảm vi phạm hành lang an toàn lưới điện cao áp; phát động phong trào

sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong toàn bộ cán bộ công nhân viên… Tuy nhiên vẫn

còn các tồn tại như: lưới điện thuộc tài sản khách hàng chưa được khách hàng quan

tâm bảo trì, thí nghiệm định kỳ để ngăn ngừa sự cố; thiết bị đóng cắt như máy cắt

(Recloser) còn ít và chưa được khai tác tốt các chức năng phục vụ cho công tác điều

tra sự cố để giảm thời gian mất điện. Do đó để khác phục các tồn tại trên trong thời

gian tới Công ty cần thực hiện các giải pháp sau:

- Để giảm sự cố lưới điện thuộc tài sản khách hàng, trong thời gian tới, Công ty

cần áp dụng biện pháp: đối với khách hàng không thực hiện bảo trì lưới điện khi sự

cố lưới điện xảy ra cần yêu cầu khách hàng phải thực hiện bảo trì, thí nghiệm toàn

bộ lưới điện trước khi đóng điện tái lập lại. Đồng thời có báo cáo, kiến nghị các Cơ

73

quan quản lý Nhà nước ban hành quy định chế tài về việc yêu cầu khách hàng bảo

trì lưới điện thuộc tài sản khách hàng theo như quy định tại Thông tư 32 của Bộ

công thương.

-Trang bị thêm kết hợp bố trí lại các thiết bị đóng cắt có khả năng điều khiển từ

xa trên lưới điện, chia nhỏ khu vực cấp điện để giảm phạm vi mất điện, tăng khả

năng chuyển mạch, phối hợp bảo vệ, giảm thời gian mất điện. Đồng thời khai thác

hiệu quả dữ liệu từ xa các Recloser để phục vụ cho công tác điều tra sự cố, giảm

thời gian điều tra sự cố cụ thể: cần lắp đặt đường truyền dữ liệu điều khiển từ xa

truyền từ tủ điều khiển các Recloser về Trung tâm điều độ lưới điện, để khai thác

các thông số vận hành và xem các thông số sự cố phục vụ kịp thời cho công tác điều

tra sự cố. Đồng thời từng bước đi đến điều khiển thao tác đóng, cắt thiết bị trên lưới

điện từ xa (chuyển mạch tự động) mà không phải đến hiện trường thao tác bằng tay

như hiện tại.

Kết luận:

Với việc áp dụng giải pháp trên giúp cho Công ty giảm bớt thời gian mất

điện do sự cố lưới điện khách hàng và giảm khu vực mất điện mất điện, thời gian

mất điện, góp phần nâng cao độ tinh cậy cung cấp điện.

3.2.4. Giải pháp 4: thực hiện đấu nối khách hàng mới vào lưới điện,

khắc phục sự cố, thay thế và sửa chữa vật tư thiết bị có nguy cơ xảy ra sự

cố bằng phương pháp Hotline.

Trong thời gian qua, Công ty đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện chỉ tiêu độ

tin cậy cung cấp điện như: thực hiện các giải pháp trong việc giảm thời gian mất

điện do công tác bảo trì, sửa chữa lưới điện; giảm thời gian mất điện do sự cố; kết

hợp cắt điện giữa công tác bảo trì lưới điện với công tác đấu nối lưới điện khách

hàng mới;…Tuy nhiên vẫn còn các tồn tại khó khăn ảnh hưởng đến chất lượng dịch

vụ cung cấp điện như: số lượng khách hàng đấu nối ngày càng nhiều do đó nếu cắt

điện đấu nối cho khách hàng thì sẽ không đạt chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện, còn

kết hợp cắt điện công tác trên lưới để đấu nối khách hàng thì không thực hiện đúng

quy định về thời gian thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng; các thiết bị hư hỏng có

74

nguy cơ gây sự cố phải cắt điện để thay thế, việc thay thế thiết bị có trường hợp

phải cắt điện nhiều phát tuyến đường dây do trên một trụ điện có nhiều phát tuyến

22kV đi chung trụ;…đã ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện cho khách hàng.

Do đó để thực hiện tốt chỉ tiêu tiếp cận điện năng và thực hiện tốt chỉ tiêu độ tin cậy

cung cấp điện, Công ty cần phải xem xét đầu tư công nghệ sửa chữa điện bằng

phương phương pháp Hotline vào công tác quản lý vận hành và phát triển lưới điện.

Khi đó khách hàng trên địa bàn Công ty khi có nhu cầu đóng điện trạm biến áp

chuyên dùng không phải chờ sắp lịch cắt điện thực hiện công tác đấu nối, công tác

thay thế thiết bị hư hỏng, bảo trì trong quá trình vận hành không phải cắt điện. Việc

đầu tư đội hotline sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế và kỹ thuật và nâng cao dịch vụ

cung cấp điện khách hàng của Công ty, cụ thể như sau :

a) Mục tiêu :

Mục tiêu xây dựng được lực lượng thi công sửa chữa điện bằng phương pháp

Hotline giúp cho Công ty giải quyết nhu cầu đấu nối khách hàng không phải chờ

đợi lịch cắt điện,bảo trì thay thế, sửa chữa lưới điện, ngăn ngừa nguy cơ gây sự cố,

giảm thời gian mất điện, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện (giảm các chỉ số SAIFI,

SAIDI MAIFI) giúp Công ty hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch EVNSPC và EVN giao

trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới.

Giúp Đơn vị nắm vững công nghệ sửa chữa điện nóng, tích luỹ kinh nghiệm để

có thể nâng cấp và mở rộng lực lượng này trong các giai đoạn kế tiếp đến các Điện

lực nhằm liên tục cải thiện các chỉ tiêu độ tin cậy đáp ứng nhu cầu sử dụng điện

ngày càng cao của khách hàng.

b) Kỹ thuật thực hiện Hotline trực tiếp:

Người thao tác thực hiện các thao tác trực tiếp trên lưới bằng cách sử dụng

găng tay, vai áo cách điện, đứng trên xe gàu hoặc sàn cách điện để công tác. Người

công nhân tiếp xúc trực tiếp với vật mang điện thông qua găng tay cách điện.

- Về nhân lực: Phương pháp này người thao tác đòi hỏi phải có kỹ năng khéo

léo, nhanh nhẹn để thực hiện các thao tác bằng tay. Không đòi hỏi gắt gao về chiều

cao, sức khoẻ, khoảng không gian để công tác, lưới điện không đòi hỏi chuẩn hoá.

75

- Về thiết kế lưới điện: Thiết kế lưới điện điện hiện nay của Công ty phù hợp

với thi công hotline.

- Về trang thiết bị: Các dụng cụ thi công đơn giản, số lượng ít nên chi phí đầu

tư thấp.

-Vấn đề khác: Thời gian thi công nhanh, an toàn nơi công cộng, ít chiếm dụng

lề đường/vỉa hè khi thi công, Chi phí thi công thấp.

Phương pháp trực tiếp phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế lưới điện, thể trạng người

công nhân cũng như điều kiện đường phố của Việt Nam. Vấn đề an toàn cho người

công nhân được chú trọng, cụ thể thể là nâng mức cách điện an toàn cho công nhân

khi thi công theo 3 cấp: xe gàu cách điện, thùng gàu cách điện, công nhân đi ủng và

mang găng tay cách điện.

Bên cạnh đó, các qui trình thi công được biên soạn rõ ràng, chi tiết cho từng mục

công việc cụ thể và người công nhân luôn nhận biết điều kiện thi công trên đường

dây đang mang điện nên công tác chuẩn bị, tâm lý và thao tác thi công cẩn trọng

hơn nên giảm thiểu được các tại nạn.

c) Các công việc được thực hiện .

- Thay các vật tư trên lưới:

+ Thay sứ đỉnh đường dây mono, thay bộ 3 sứ đứng đường dây 3 pha đà đối

xứng và đà vertical;

+ Thay sứ treo, cò lèo đường dây mono và 3 pha;

+ Thay đà đối xứng, đà lệch trụ đội line và đường dây 3 pha;

+ Thay đà đôi trụ góc và đà vertical đường dây 3 pha;

- Thay các thiết bị trên lưới:

+ Thay các thiết bị trung thế bao gồm: FCO, LBCO, LA, DS, LBS, Recloser

đường dây 1 pha, 3 pha.

+ Thay máy biến áp đường dây mono và 3 pha.

- Công tác đấu nối:

+ Đấu nối cò lèo đường dây mono và 3 pha;

- Đấu nối các nhánh rẽ, trạm phân phối vào các đường dây hiện hữu

76

- Công tác trồng trụ:Thay trụ độ line, trụ dừng dây;

* Môt số hình ảnh minh họa công tác thi công bằng phương pháp hotline.

Hình 3.1 : Bọc đà , dây để thay sứ đứng.

Hình 3.2 : Trồng trụ bằng phương pháp Hotline

77

Hình 3.3: Lắp đà bằng phương pháp Hotline.

Hình 3.4: Lắp kẹp rẽ nhánh bằng phương pháp Hotline.

78

d) Trang bị dụng cụ, đồ nghề:

Trang bị dụng cụ đồ nghề của Đội thi công hotline, dự kiến mỗi đội thi công

hotline sẽ trang bị 120 mục hàng (danh sách theo phụ lục 2 đính kèm) sẽ đảm bảo

đủ để thi công các hạng mục công việc thông thường nêu trên.

Phương tiện:

- 01 xe gàu Hotline thi công cho mỗi đội. Đây là phương tiện bắt buộc phải

có cho mỗi đội hotline.

- 01 xe cẩu-đào lỗ trồng trụ Hotline thi công trong các công tác: trồng trụ đội

line, lắp thiết bị recloser, LBS, dao cách ly 3 pha.

- 01 xe bán tải để chở công nhân, dụng cụ thi công và các vật tư lưới điện.

e) Nhân sự trực tiếp thi công:

Để có thể thực hiện các công tác Hotline trên lưới bằng phương pháp trực tiếp

thao tác kết hợp với xe gàu, người công nhân phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Trình độ học vấn: Tối thiểu tốt nghiệp lớp 12.

- Bậc nghề: Từ 4/7 trở lên.

- Độ tuổi: từ 25 tới 35 tuổi.

- Chiều cao tối thiểu: 1,65m.

- Chỉ số trọng lượng cơ thể: nhỏ hơn 30 (hệ số: trọng lượng /(chiều cao)2)

- Đã được đào tạo qua khoá huấn luyện công nhân kỹ thuật đường dây

và trạm tối thiểu 18 tháng.

- Có kinh nghiệm ít nhất 1 năm thi công lưới trung thế và 06 tháng sửa chữa,

vận hành lưới điện.

- Có kỹ luật và kỹ năng làm việc nhóm.

- Có tính tỉ mỉ, cẩn thận.

- Có tinh thần cầu tiến, không ngừng học hỏi.

- Thể lực: Không bị các bệnh lý như: tim mạch, huyết áp, thị lực, các

bệnh về khớp…

f) Yêu cầu đào tạo đối với công nhân Hotline:

79

- Đảm bảo Công nhận được đào tạo có đủ khả năng thực hiện các công

tác Hotline trên lưới điện phân phối 22kV của Công ty.

- Sau thời gian huấn luyện, nếu đạt, người được huấn luyện sẽ được cấp

chứng chỉ xác nhận đã đủ điều kiện để thực hiện các công tác Hotline đã được

huấn luyện trong khóa học.

- Sau thời gian huấn luyện, công nhân phải thành thạo thực hiện được

các công việc đã nêu ở trên.

g) Phương án đào tạo.

Được đào tạo bởi các tổ chức và các nước có kinh nghiệm thực hiện sửa chữa

điện bằng phương pháp Hotline đồng thời được đào tạo bởi đơn vị cung cấp đồ

nghề, đây là một phần việc quan trọng nhất trong công tác đầu tư Đội hotline, nó có

ý nghĩa quyết định sự thành công của đề án. Vì vậy phương án đào tạo phải được

thực hiện chặt chẽ đảm bảo cho người công nhân và các cán bộ quản lý nắm vững

và thực hiện được các công việc sửa chữa đường dây trung áp đang mang điện một

cách an toàn tuyệt đối. Kết thúc đào tạo, Đơn vị đào tạo sẽ cấp chứng chỉ chuyên

nghiệp hotline cho các học viên. Học viên của nhóm phải tham dự khoá đào tạo lái

xe để để tự vận hành các phương tiện: xe gàu, xe cẩu-đào lỗ trồng trụ, xe bán tải.

h) Mô hình tổ chức.

Mô hình tổ chức hiệu quả của một đội Hotline gồm:

- 01 Đội trưởng: Phụ trách chung và công tác quản lý điều hành, tổ

chức kế hoạch thi công, quản lý tài sản.

- 01 Đội phó kiêm cán bộ an toàn chuyên trách: phục trách công tác thi

công, an toàn, thí nghiệm bảo dưỡng dụng cụ, phương tiện.

- 06 Công nhân. Trong đó có 01 Trưởng nhóm kiêm cán bộ giám sát an

toàn, 05 công nhân trực tiếp thi công, bao gồm cả 3 người có khả năng vận hành các

phương tiện: xe gàu, xe cẩu-đào lỗ trồng trụ, xe bán tải.

Khối lượng công tác của 01 tổ Hotline: Theo qui định 102/ĐVN/AT ngày

10/01/1997 của Tổng Công ty điện lực Việt Nam quy đinh về an toàn tạm thời khi

thực hiện công tác sữa chữa đường dây đang mang điện theo Điều 9 là một tổ công

80

tác Hotline tối thiểu phải cần 6 người trở lên mỗi khi thực hiện công tác trên lưới.

Vì lý do đảm bảo an toàn và sức khoẻ cho công nhân, Tổ Hotline cần đào tạo sẽ có

08 người/tổ và không nên làm quá 02 công tác (lượt)/ngày. Như vậy số lần công tác

Hotline của 01 tổ khoảng 400 lần công tác/năm.

i) Các công việc liên quan đến vận hành đội hotline.

Ø Công tác thí nghiệm định kỳ:

- Về các dụng cụ: Được chia ra thành 2 nhóm: Dụng cụ cơ khí và dụng cụ

cách điện. Các dụng cụ cách điện sẽ được các Đơn vị (phân xưởng thí nghiệm) tiến

hành thí nghiệm định kỳ hàng năm theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

- Về phương tiện xe gàu hotline và xe cẩu-đào lỗ trồng trụ hotline: Theo

khuyến cáo của nhà sản xuất, hạng mục thí nghiệm định kỳ hàng năm là đo cách

điện cần cẩu và gàu cách điện…

Ø Công tác bồi huấn nghiệp vụ, sát hạch an toàn:

- Theo mô hình tổ chức đội và phương án đào tạo, mỗi đội sẽ gồm 8 người

trong đó có đội trưởng và đội phó phụ trách công tác quản lý và 6 thành viên trực

tiếp thi công đều được bố trí tham gia đào tạo.

- Để đảm bảo các công nhân hotline duy trì kỹ năng thao tác và an toàn, hàng

năm Đội hotline phải tổ chức tập huấn nghiệp vụ và sát hạch an toàn cho cả Đội.

Thao trường thực tập là các đoạn đường dây trên không giống với thực tế. Các Cán

bộ quản lý Đội trưởng, Đội phó, tổ trưởng sẽ chủ trì điều hành công tác này.

j) Khái toán vốn đầu tư.

Bảng 3.1: Dự trù kinh phí đầu tư cho 1 đội Hotline. Stt Tên thiết bị Số lượng Đơn giá Thành tiền

1 Chi phí mua sắm thiết bị 16.200.000.000

1.1 Bộ dụng cụ đồ nghề thi công Hotline 1 3.800.000.000 3.800.000.000

1.2 Xe cẩu-đào lỗ trồng trụ cách điện 1 6.200.000.000 6.200.000.000

1.3 Xe gàu cách điện 1 6.200.000.000 6.200.000.000

2 Chí phí Đào tạo (8 học viên) 3.500.000.000

3 Cộng (1+2) 19.700.000.000

4 Thuế VAT (10%* Cộng (1+2)) 1.970.000.000

81

5 Chi phí dự phòng (10% ) 2.167.000.000

6 Tổng cộng (GTB=3+4+5) 23.837.000.000

k) Đánh giá lợi ích đầu tư.

Ø Nhu cầu sửa điện nóng bằng phương pháp Hotline.

Căn cứ kết quả khảo sát nhu cầu sửa chữa điện nóng của Công ty để đầu tư

trang thiết bị mà xe cẩu-đào lỗ trồng trụ Hotline và xe gàu Hotline có thể tiếp cận

thi công được:

Bảng 3.2: Nhu cầu sửa chữa bằng phương pháp Hotline của PCLA

Stt Công việc Số lần thực hiện

I Thi công Hotline với xe gàu 2.756

II Thi công Hotline với xe gàu và xe cẩu đào lổ trụ 439

Tổng cộng 3.195

Như vậy nhu cầu sửa chữa điện nóng tại Công ty là rất lớn, trong khi năng lực

thi công của một đội hotline thì hạn chế. Vì vậy việc tính toán hiệu quả của việc đầu

tư đội Hotline căn cứ trên khả năng thi công của đội là 400 lần/năm.

Ø Tính giá trị làm lợi.

Bảng 3.3: Lợi ích kinh tế của 1 đội hotline trong 1 năm:

Stt Nội dung Thông số

I Tăng doanh thu 25,72 tỷ đồng

1 Số lượng lần công tác của đội Hotline thực hiện

được

400 lần công tác

2 Thời gian thi công nếu phải cắt điện 5 giờ/lần công tác

3 Dòng điện trung bình trên 01 tuyến đường dây nơi

có công tác

250A

4 Công suất bán được khi thi công hotline (không

phải cắt điện công tác)

250(A)*1.735*22(kV)*0.9

=8.573kW

5 Tổng sản lượng điện bán được khi thi công hotline

(không phải cắt điện công tác)

8.573kW *5

giờ/lần*400lần =17,15

82

triệu KWh

6 Danh thu bán điện thu được từ việc không cắt điện

thi công Hotline

17,15 triệu kWh *

1.500đ/kWh =25,72 tỷ

đồng (1.500đ/KWh)

II Chi phí hotline 5,42 tỷ đồng/năm

1 Giá trị nhiên liệu/vận hành máy thi công

Hotline/số lần công tác (bình quân)

4 triệu đồng/lượt công tác

2 Tổng giá trị nhiên liệu và máy thi công Hotline

trong 1 năm (400 lần công tác)

1,6 tỷ VNĐ đồng

3 Chi phí nhân công phải trả 2,0 tỷ VNĐ đồng/năm

4 Chi phí khấu hao (10 năm) 1,62 tỷ VNĐ đồng/năm

5 Chi phí quản lý 200 triệu VNĐ đồng/năm

• Tính hiệu quả trên hệ số SAIFI và SAIDI tại Công ty:

- Nếu lấy số liệu thông kê năm 2014 tính toán:

Số kWh mất điện do sự cố: 3.663.783 kWh

Số kWh mất điện do cắt điện có kế hoạch công tác: 16.395.965 kWh

Tổng Số kWh mất điện 2014: 3.663.783 kWh +16.395.965 kWh = 20.059.748

kWh

Tổng Số tiền điện không bán được năm 2014 là: 20.059.748kWh x 1500

đồng/kW.h =30 tỷ đồng

Nếu công tác của Đội Hotline giúp giảm 75% sản lượng điện không cung cấp

được của năm 2014 sẽ là: 22,5 tỷ đồng .

Chỉ số SAIDI mất điện do công tác sẽ giảm được 50% so với trước khi có Đội

Hotline.

Ngoài những lợi ích trên, công tác Hotline còn mang lại những lợi ích khác

không tính bằng tiền được như: nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, nâng cao chất

lượng dịch vụ khách hàng, giảm thời gian mất điện, ứng dụng công nghệ mới vào

trong công tác quản lý vận hành để nâng cao năng suất lao động…

83

Công tác Hotline góp phần giảm mất điện sau này nếu đảm nhận được toàn bộ

khối lượng bảo trì, kiểm tra, thí nghiệm thay thế thiết bị trên lưới không cắt điện thì

còn mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn.

• Giá trị sản phẩm xã hội thu được từ việc không cắt điện :

Khu vực cấp điện của Công ty nằm trong khu vực phát triển kinh tế năng động

với các ngành công nghiệp, dịch vụ với lượng điện năng sử dụng rất lớn, chiếm tỷ

trọng cao trên lưới điện truyền tải và phân phối của EVN SPC. Do đó, lợi ích kinh

tế mang lại từ việc thi công bằng Hotline so với phương pháp cắt điện phổ biến hiện

nay là rất lớn.

Theo số liệu của Tổ chức CEEP (Pilot Commercial Energy Efficiency

Project), hiệu quả kinh tế sử dụng điện năng bình quân khoảng 1,33USD/kwh (số

liệu năm 2007). Nếu áp dụng thi công bằng phương pháp Hotline sẽ làm tăng hiệu

quả kinh tế xã hội tăng thêm 20.009.599 USD (Tổng Số kwh mất điện

20.059.748kwh x 75% x 1,33USD/kwh).

Đánh giá lợi ích đầu tư

- Chi phí vận hành đội hotline: 5,42 tỷ đồng/năm

- Doanh thu tăng do bán thêm điện cho khách hàng: 25.72 tỷ đồng/năm

- Chỉ số độ tin cậy giảm: 50% so với hiện tại

- Hiệu quả kinh tế xã hội tăng thêm: 20.009.599 USD

Kết luận:

Áp dụng phương pháp sửa chữa điện bằng phương pháp Hotline sẽ giải quyết

được vấn đề Công ty đang gặp phải là: vừa đảm bảo được giảm thời gian thực hiện

chỉ số tiếp cận điện năng, vừa đảm bảo giảm chỉ số độ tin cậy cung cấp điện, đồng

thời tăng cường độ ổn định trong quá trình cấp điện, chất lượng dịch vụ cung cấp

điện được nâng cao, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội.

3.2.5. Giải pháp 5: Đầu tư các trạm biến áp 220kV và các trạm 110kV

phù hợp với Quy hoạch phát triển lưới điện.

Trong thời gian qua, Công ty đã thực hiện nhiều giải pháp để giảm thời gian

mất điện do công tác, sự cố, ... Tuy nhiên với hiện trạng và kết cấu lưới điện như

84

hiện nay các trạm 110kV và các phát tuyến 22kV đang đầy và quá tải, cụ thể là: có

hiện nay có 7/ 11 trạm ( với 11/17 MBA) nguồn 110kV đang đầy, quá tải; có 30 xuất

tuyến trên 50% tải (có 09 tuyến từ 60% -- 69% tải, 11 tuyến từ 70%--79% tải, 05

tuyến trên 80% tải dây) ; một số huyện được cấp điện từ các TBA 110kV đặt trên

địa bàn huyện lân cận thông qua 02 hoặc 03 phát tuyến hình tia chưa được kết nối

mạch vòng;... nên độ tin cậy cung cấp điện không cao. Do đó, để nâng cao chất

lượng cung cấp điện cho khách hàng thì công tác đầu tư, cải tạo tăng công suất và

phát triển trạm nguồn cần phải được quan tâm thực hiện, chỉ có đầu tư nâng cấp cải

tạo các trạm nguồn mới đáp ứng được một cách bền vững nâng cao khả năng cung

cấp điện. Đồng thời giải quyết giảm tải các trạm 110kV và các phát tuyến 22kV

hiện hữu đang quá tải, giảm thời gian và khu vực mất điện, đáp ứng tốc độ phát

triển phụ tải của địa phương. Do đó trong thời gian tới,Công ty cần kiến nghị Tổng

Công ty thực hiện đầu tư, cải tạo các trạm nguồn, cụ thể là:

1. Lưới điện 220kV:

Đầu tư các trạm nguồn 220kV để đáp ứng nhu cầu tăng công suất trạm

110kV hiện hữu và lắp mới các trạm 110kVchống quá tải, nhất là các trạm 110kV

cấp điện cho khu vực các huyện có tỷ trọng công nghiệp cao đang đầy và quá tải, cụ

thể là: cần đầu tư các trạm 220kV Đức Hòa, trạm 220kV Bến lức, trạm 220kV Cần

Đước để cấp điện cho các trạm 110 kV trong khu vực.

2. Lưới điện 110kV:

Trước mắt trong giai đoạn 2015-2016 để chống quá tải các trạm 110kV hiện

hữu Công ty điện lực Long an cần sớm kiến nghị Tổng công ty Điện lực Miền nam

tăng công suất và lắp mới các trạm trong khu vực, cụ thể như sau :

- Tăng công suất trạm 110kV Đức Lập từ (1x63)MVA lên (2x63)MVA để

giảm tải trạm 110KV đang đầy tải, đảm bảo khả năng cấp điện cho các phụ tải trên

địa bàn huyện Đức Hòa.

- Tăng công suất trạm 110kV Tân An từ (2x40)MVA lên (2x63)MVA, đảm

bảo khả năng cấp điện cho các phụ tải trên địa bàn TP Tân An, huyện Châu Thành,

Tân Trụ, Thủ Thừa.

85

- Tăng công suất trạm 110kV Long An từ (1x40)MVA lên (2x40)MVA, đảm

bảo khả năng cấp điện cho các phụ tải trên địa bàn TP.Tân An, huyện Châu Thành,

Tân Trụ, Thủ Thừa.

- Tăng công suất trạm 110kV Mộc Hóa từ (2x25)MVA lên (2x40)MVA, đảm

bảo cấp điện cho các phụ tải khu vực các huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng,

Tân Thạnh.

- Tăng công suất trạm 110kV Rạch Chanh từ (40+63)MVA lên (2x63)MVA,

đảm bảo khả năng cấp điện cho các phụ tải trên địa bàn huyện Cần Đước, Bến Lức.

- Tăng công suất trạm 110kV Long Hậu từ (1x40)MVA lên (2x40)MVA,đảm

bảo cấp điện cho các phụ tải khu vực huyện Cần giuộc.

- Tăng công suất trạm 110kV Cần đước từ (16+40)MVA lên (2x40)MVA,đảm

bảo cấp điện cho các phụ tải khu vực các huyện Cần Đước,Cần giuộc.

- Xây dựng mới công trình “Trạm biến áp 110kV Hựu Thạnh và đường dây

đấu nối”, với quy mô lắp mới (2x63)MVA, tăng cường khả năng cấp điện cho các

phụ tải công nghiệp khu vực huyện Đức Hoà đồng thời giảm tình trạng quá tại trạm

Đức Hòa (2x63) MVA.

Trong thời gian tới, Công ty Điện lực Long An cần kiến nghị Tổng Công ty

Điện lực miền Nam thực hiện đầu tư nhiều trạm nguồn 110kV trên địa bàn tỉnh

Long An, trong năm 2016- 2020, như sau :

- Đường dây 110kV Long An 2 - An Thạnh và xây dựng TBA 110kV An

Thạnh 1x63MVA, đảm bảo cấp điện cho các phụ tải công nghiệp khu vực huyện

Đức Hoà, Bến lức đồng thời giảm tình trạng quá tải trạm 110kV Bến lức.

- Đường dây 110kV Mộc Hóa-Vĩnh Hưng và TBA 110kV Vĩnh Hưng

(1x40)MVA đảm bảo cấp điện các phụ tải khu vực huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng

và đồng thời giảm tải trạm 110kV Mộc Hóa và rút ngắn bán kính cấp điện.

- Đường dây 110kV Cần Đước –Nam Tân Tập và TBA 110kV Nam Tân Tập

(1x63)MVA đảm bảo cấp điện cho các phụ tải công nghiệp khu vực huyện Cần

giuộc đồng thời giảm tình trạng quá tải trạm 110kV Cần Đước, và trạm Long Hậu.

- Đường dây đầu nối và TBA 110kV Châu Thành (2x63)MVA đảm bảo cấp

86

điện chocác phụ tải khu vực huyện Châu Thành đồng thời giảm tình trạng quá tải

trạm 110KV Tân An .

- Đường dây đấu nối và TBA 110kV KCN Bến Lức (2x63)MVA đảm bảo cấp

điện cho các phụ tải công nghiệp khu vực huyện Bến lức đồng thời giảm tình trạng

quá tải trạm 110 KVBến lức và trạm 110kV Rạch Chanh .

Tuy nhiên hiện tại vẫn còn 4 huyện Tân Hưng, Tân Thạnh,Thủ Thừa, Tân

Trụ chưa có trạm 110kV vẫn còn phải nhận điện từ các trạm 110kV các huyện lân

cận nhưng không có trong quy hoạch lưới điện của Tỉnh. Do đó trong kỳ quy hoạch

phát triển Điện lực tỉnh Long An giai đoạn 2016-2025có xét đến năm 2030 sắp tới,

Công ty Điện lực Long An cần kiến nghị Sở Công thương bổ sung quy hoạch thêm

các trạm nguồn 110kV trên cơ sở dự báo phụ tải của từng khu vực. Mục tiêu là để

nâng cao chất lượng cung cấp điện cho khách hàng thì tại mỗi huyện phải có ít nhất

một trạm nguồn 110kV và các trạm 110kVchỉ mang tải khoảng từ 50 đến 60% định

mức để có thể hỗ trợ qua lại với nhau trong trường hợp có mất điện.

Kết luận :

Sau khi các trạm nguồn 110kV trên đưa vào vận hành thì cơ bản đáp ứng kịp

tốc độ phát triển phụ tải trên địa bàn tỉnh Long An. Khoảng cách giữa các trạm

nguồn được rút ngắn, bán kính cấp điện của các phát tuyến 22kV giảm, tình trạng

mang tải của các trạm 110kV và các phát tuyến đường dây 22 kV giảm, hệ số mang

tải các trạm 110kV và các phát tuyến 22kV nằm trong khoảng 50 đến 60% định

mức. Các trạm nguồn trong khu vực có thể hỗ trợ cấp điện chuyển tải qua lại, trong

trường hợp một trạm nguồn bị mất điện hay phát tuyến 22kV mất điện. Do đó chất

lượng điện cung cấp cho khách hàng được đảm bảo, giảm thời gian mất điện đến

mức thấp nhất, chất lượng cung cấp điện ngày càng được cải thiện. Đồng thời với

việc đầu tư các trạm 110kV như trên sẽ là cơ sở cho việc đầu tư lưới điện 22kV đạt

tiêu chí N-1 sau này.

87

3.2.6. Giải pháp 6: Đầu tư, cải tạo lưới điện phân phối 22kVphù hợp

với Quy hoạch phát triển Điện lực tỉnh Long An, giảm tải các đường dây

22kV đầy tải, tạo mạch vòng lưới điện, bọc hóa lưới điện giảm sự cố.

a) Lập kế hoạch đầu tư các đường dây trung thế 22kV tạo mạch vòng các

trạm biến áp 110kV nhằm đảm bảo cấp điện liên tục giảm thời gian mất điện

cho khách hàng:

Qua các thông số vận hành của các phát tuyến 22kV(phụ lục 1 đính kèm)

nhận thấy đa số các tuyến đều vận hành trong tình trạng đầy tải : có 30 xuất tuyến

trên 50% tải (có 09 tuyến từ 60% -- 69% tải, 11 tuyến từ 70%--79% tải, 05 tuyến

trên 80% tải dây). Mặc dù một số phát tuyến có liên kết với nhau nhưng khả năng

chuyển tải qua lại các trạm 110kV và các phát tuyến 22kV là rất hạn chế, trong

trường hợp các trạm biếp áp 110kV hay các phát tuyến cùng khu vực bị mất điện thì

không thể hỗ trợ cấp điện từ phát tuyến kia, gây ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp

điện. Do đó trong thời gian tới ngoài việc đầu tư các trạm 110kV để giảm bán kính

cấp điện, giảm tải các đường dây 22kV thì việc đầu tư lưới điện 22kV để đồng bộ

với việc đầu tư xây dựng các trạm nguồn 110kV khai thác tốt các trạm 110kV và

tạo mạch vòng, kết nối cấp điện theo tiêu chí N-1 là điều rất quan trọng và có tính

bền vững nhằm đảm bảo cấp điện, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, cụ thể:

Công ty cần triển khai đầu tư, cải tạo lưới điện nhằm đảm bảo lưới điện trung

thế vận hành theo tiêu chí N-1, với mục tiêu là: giảm thời gian và phạm vi mất điện,

tăng độ tin cậy cung cấp điện; tăng mức độ tự động hóa, tăng năng suất lao động.

Cần thực hiện tăng khả năng cấp điện dự phòng qua mạch vòng như : liên kết các

phát tuyến 22kV các trạm 110kV với nhau và liên kết các phát tuyến 22kV cùng

trạm 110kV; nâng cấp, cải tạo các đường dây quá tải, các đường dây quan trọng

nhưng thường xuyên gây sự cố, đảm bảo sao cho các phát tuyến 22kV mang tải

dưới 50% định mức dây dẫn. Khi một trạm 110kV hay phát tuyến 22kVmất điện thì

trạm 110kV lân cận và lưới điện trung thế 22kV còn lại phải đảm bảo có thể chuyển

tải từ các trạm 110kV lân cận trong khu vực để cấp điện cho các phụ tải trong khu

vực bị mất điện.

88

Tuy nhiên do địa bàn tỉnh Long an rộng, lớn nên để đầu tư tất cả các khu vực

thì cần nguồn vốn đầu tư rất lớn nên trong giai đoạn đầu, mục tiêu đặt ra là đảm bảo

cấp điện liên tục cho một số phụ tải có sản lượng điện tiêu thụ lớn, các phụ tải quan

trọng như: Trung tâm chính trị-xã hội của địa phương; các khu công nghiệp; cụm

công nghiệp tập trung; các trung tâm dịch vụ, du lịch trung tâm huyện…

Kết luận:

Sau khi xây dựng lưới điện đạt theo tiêu chí N-1, thì tất cả các trạm 110kV

trên địa bàn tỉnh Long An sẽ được kết nối với nhau. Các trạm biến áp 110kV trong

cùng khu vực có thể hỗ trợ toàn bộ, hoặc một phần phụ tải khi có một trạm 110 kV

bị mất điện. Các phụ tải quan trọng trong các khu cụm công nghiệp, trung tâm hành

chính của Thành Phố, Thị Xã và trung tâm các Huyện đều được cấp điện từ ít nhất

là hai nguồn bằng các phát tuyến trung thế 22kV, do đó nâng cao khả năng cấp điện,

đảm bảo cấp điện an toàn, liên tục.

b) Cải tạo bọc hóa lưới điện khu vực Thành Phố, Thị Xã, thị trấn :

Hiện tại đa số các phát tuyến 22kV trên địa bàn Công ty quản lý đều sử dụng

dây nhôm trần, bán kính cấp điện dài, đi qua khu vực địa hình nhiều cây cối, khu

vực đông dân cư, khu vực công nghiệp gây ô nhiểm… nên thường xuyên xảy ra sự

cố do phóng sứ, cây va quẹt, vi phạm hành lang an toàn lưới điện hoặc các động vật

như: rắn, chim, … leo lên lưới gây sự cố. Bên cạnh việc triển khai xây dựng lưới

điện theo tiêu chí N-1, Công ty cần phải thực hiện triển khai cải tạo bọc hóa dần

lưới điện trung tâm Thành Phố, Thị Xã và trung tâm các Huyện, các khu cụm công

nghiệp,..với mục tiêu đặt ra là đến năm 2020 đạt ít nhất 50% lưới điện trung thế

22kV được bọc hóa, cụ thể: Đầu tư cải tạo bọc hóa lưới điện thuộc trung tâm các

huyện, các khu vực công nghiệp nhất là các huyện có tỉ trọng công nghiệp cao, các

khu vực khó chặt tỉa cây cần ưu tiên thực hiện trước như : Bến Lức, Đức Hòa, Cần

Giuộc, Cần Đước …. nhằm hạn chế sự cố lưới điện, giảm thiểu các trường hợp vi

phạm hành lang an toàn lưới điện, tăng tính liên tục trong quá trình cung cấp điện,

đảm bảo mỹ quan đô thị, tăng cường chất lượng dịch vụ cung cấp cấp điện, độ ổn

định trong quá trình cung cấp điện.

89

Kết luận:

Với việc thực hiện giải pháp bọc hóa lưới điện sẽ giúp Công ty hạn chế được

sự cố lưới điện do vi phạm hành lang an toàn lưới điện, giảm sự cố do phóng sứ,…

đảm bảo lưới điện vận hành an toàn liên tục, nâng cao độ tinh cậy cung cấp điện

cho khách hàng.

Tóm tắt và kết luận chương III:

Để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện tại Công ty Điện lực Long An,

qua nghiên cứu Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu sau:

1. Nâng cao việc thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng đối với các khách hàng

có nhu cầu lắp đặt mới đường dây trung thế và trạm biến áp chuyên dung.

2. Giảm thời gian mất điện do bảo trì, sửa chữa lưới điện.

3. Thực hiện các giải pháp giảm thời gian mất điện do sự cố.

4. Thực hiện đấu nối khách hàng mới vào lưới điện, khắc phục sự cố, thay

thế và sửa chữa vật tư thiết bị có nguy cơ xảy ra sự cố bằng phương pháp

hotline.

5. Đầu tư các trạm biến áp 220kV và các trạm 110kV phù hợp với Quy

hoạch phát triển lưới điện.

6. Đầu tư, cải tạo lưới điện phân phối 22kV phù hợp với Quy hoạch phát

triển Điện lực tỉnh Long An, giảm tải các đường dây 22kV đầy tải, tạo

mạch vòng lưới điện, bọc hóa lưới điện giảm sự cố.

90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận.

Đáp ứng nhu cầu điện cho xã hội là nhiệm vụ rất quan trọng, nhất là trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì nhu cầu năng lượng đã trở thành vấn

đề mang tính toàn cầu, được nhiều quốc gia quan tâm giải quyết, đặc biệt là đối với các

nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Trong thời giai qua, Ngành điện lực nói chung và Công ty Điện lực Long An

nói riêng đã chịu nhiều sức ép về đáp ứng nhu cầu điện năng cho việc phát triển

kinh tế - xã hội, nhưng Công ty vẫn nỗ lực để hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - kỹ

thuật được cấp trên giao và hoàn thiện nhiệm vụ cấp điện tương đối an toàn, ổn định

cho nhu cầu của khách hàng, góp phần quan trọng trong việc ổn định an ninh -

chính trị, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo anh sinh xã hội của

Tỉnh.

Tuy nhiên, quy trình cấp điện, kết cấu hạ tầng lưới điện, trình độ nhân viên,

chất lượng dịch vụ cung cấp điện v.v..còn những hạn chế nhất định, chưa làm hài

lòng hầu hết các khách hàng trên địa bàn Tỉnh, nên việc nâng cao chất lượng dịch

vụ cung cấp điện điện tại Công ty Điện lực Long An cần phải phấn đấu nỗ lực hơn

nữa và có rất nhiều việc phải làm trong thời gian tới. Vì vậy, cần xem xét một cách

nghiêm túc để rút ra những kinh nghiệm, đề ra những giải pháp thiết thực, khắc

phục những hạn chế này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện tại Công

ty.

Để góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện khách hàng sử dụng

điện, qua nghiên cứu, Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp chủ yếu sau:

1. Nâng cao việc thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng đối với các khách hàng

có nhu cầu lắp đặt mới đường dây trung thế và trạm biến áp chuyên dung.

2. Giảm thời gian mất điện do bảo trì, sửa chữa lưới điện.

3. Thực hiện các giải pháp giảm thời gian mất điện do sự cố.

91

4. Thực hiện đấu nối khách hàng mới vào lưới điện, khắc phục sự cố, thay

thế và sửa chữa vật tư thiết bị có nguy cơ xảy ra sự cố bằng phương pháp

hotline.

5. Đầu tư các trạm biến áp 220kV và các trạm 110kV phù hợp với Quy

hoạch phát triển lưới điện.

6. Đầu tư, cải tạo lưới điện phân phối 22kV phù hợp với Quy hoạch phát

triển Điện lực tỉnh Long An, giảm tải các đường dây 22kV đầy tải, tạo

mạch vòng lưới điện, bọc hóa lưới điện giảm sự cố.

Với việc thực hiện các giải pháp trên trong thời gian tới Công ty Điện lực

Long An nhất định sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện cho khách hàng sử

dụng điện tại Công ty góp phần với Tổng công ty Điện lực Miền Nam hoàn thành

các chỉ tiêu mà Tập Đoàn Điện lực Việt Nam giao.

2. Kiến nghị

Để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện khách hàng tại Công ty

Điện lực Long An trong thời gian tới, bên cạnh nỗ lực của đơn vị, cần có sự hỗ

trợ từ Chính phủ, các Bộ, UBND các cấp và Sở, Ngành của Tỉnh, sự quan tâm

đầu tư lưới điện của EVNSPC, EVN và sự cảm thông, chia sẻ hợp tác của từng

khách hàng sử dụng điện.