31
Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ v1.0 83 BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Mục tiêu Nội dung Hiểu được bản chất và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Trung ương. Hiểu được mục tiêu, tính chất và tác động của các công cụ chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế. Thời lượng học 8 tiết. Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức cơ bản về Ngân hàng Trung ương, vị trí, vai trò của Ngân hàng Trung ương đối với nền kinh tế. Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức về chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ.

BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

  • Upload
    lyhanh

  • View
    214

  • Download
    1

Embed Size (px)

Citation preview

Page 1: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 83

BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Mục tiêu Nội dung

Hiểu được bản chất và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Trung ương.

Hiểu được mục tiêu, tính chất và tác động của các công cụ chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế.

Thời lượng học

8 tiết.

Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức cơ bản về Ngân hàng Trung ương, vị trí, vai trò của Ngân hàng Trung ương đối với nền kinh tế.

Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức về chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ.

Page 2: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

84 v1.0

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Tình huống

Công ty Alpha ký hợp đồng sản xuất sô cô la dài hạn cho công ty 1402. với thời hạn là 10 năm. Hiện nay ông Quang đang xác định giá cho lô hàng của mình sẽ bán, và nhận được tư vấn là ông không được đặt một mức giá cố định mà phải điều chỉnh tăng dần qua các năm vì lạm phát được dự báo là sẽ cao trong thời gian tới do chính phủ hiện nay đang thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm kích thích phát triển kinh tế. Ông Quang không hiểu tại sao phát triển kinh tế lại liên quan tới chính sách tiền tệ, và tại sao chính sách tiền tệ nới lỏng lại có liên quan tới lạm phát.

Câu hỏi

Anh chị có thể tư vấn cho ông Quang tại sao lại có lạm phát, lạm phát có tác hại gì mà ông Quang phải điều chỉnh giá cả cho lô hàng của mình qua mỗi năm?

Anh chị hãy giúp ông Quang hình dung được các chính sách tiền tệ có tác động gì tới nền kinh tế, và những công cụ chính sách tiền tệ khác nhau nhằm tác động tới yếu tố nào trong nền kinh tế?

Page 3: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 85

5.1. Ngân hàng trung ương (NHTW)

5.1.1. Sự ra đời và phát triển của NHTW Sự ra đời của NHTW bắt nguồn từ sự phân hóa của hệ thống ngân hàng. Qua thời gian, các NHTW ngày càng hoàn thiện và đảm nhận tốt chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ. Quá trình ra đời của NHTW trải qua các giai đoạn sau:

Sự phân hoá hệ thống ngân hàng

Ðến thế kỷ XVII, các ngân hàng đã được công nhận như một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Trong thời kỳ này, bên cạnh các nghiệp vụ như huy động tiền gửi, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh thương phiếu…, các ngân hàng được phép phát hành tiền dưới dạng các chứng thư, kỳ phiếu thay cho vàng. Lúc đầu, các kỳ phiếu ngân hàng chỉ được phát hành khi có một khoản tiền vàng thực sự gửi vào ngân hàng (đảm bảo bằng vàng). Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XVII, các ngân hàng bắt đầu lợi dụng ưu thế của mình để phát hành một khối lượng lớn các kỳ phiếu tách rời khỏi dự trữ vàng để cho vay, điều này đe doạ dự trữ vàng và khả năng chuyển đổi ra vàng của các kỳ phiếu được phát hành.

Đến cuối thế kỷ XVIII, lưu thông hàng hóa được mở rộng cả về phạm vi và quy mô. Trong bối cảnh ấy, việc nhiều ngân hàng phát hành nhiều loại giấy bạc khác nhau đã cản trở quá trình phát triển kinh tế. Nhà nước không thể kiểm soát được khối lượng tiền trong lưu thông và càng không thể kiểm soát được tính chất đảm bảo của lượng tiền lưu thông đó. Ngoài ra, dân chúng cũng có sự lựa chọn kỳ phiếu của các ngân hàng; kỳ phiếu của các ngân hàng lớn chiếm lĩnh thị trường, đẩy kỳ phiếu của các ngân hàng nhỏ ra khỏi lưu thông. Tình trạng này kéo dài dẫn đến sự bất ổn trong lưu thông tiền tệ. Trước tình hình đó, Nhà nước buộc phải can thiệp nhằm thiết lập trật tự và sự thống nhất cho việc phát hành tiền, đảm bảo an toàn cho các giấy chứng nhận nợ của các ngân hàng. Sự can thiệp này dẫn đến việc chỉ còn một số ngân hàng lớn được quyền phát hành tiền kèm theo nghiệp vụ kinh doanh (ngân hàng phát hành), các ngân hàng khác chỉ được kinh doanh hoạt động tiền tệ và tín dụng, không được phép phát hành tiền. Các ngân hàng này được quyền mở tài khoản và thanh toán bù trừ thông qua ngân hàng phát hành, biến ngân hàng phát hành thanh trung tâm thanh toán. Từ lúc này, hệ thống ngân hàng được phân thành hai cấp: các ngân hàng phát hành và hệ thống các ngân hàng trung gian (không có chức năng phát hành nhưng có chức năng kinh doanh tiền tệ).

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, để thống nhất việc phát hành tiền, Nhà nước chỉ cho phép một ngân hàng phát hành uy tín nhất được quyền phát hành tiền. Các ngân hàng phát hành khác được chuyển thành các ngân hàng thương mại. Chẳng hạn như ở Anh, vào năm 1694, quyền phát hành tiền tập trung vào 10 ngân hàng

Page 4: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

86 v1.0

lớn nhất, sau đó vào năm 1844 chỉ có duy nhất Ngân hàng Anh (Bank of England) được phép phát hành tiền, các ngân hàng khác chỉ được phép phát hành hạn chế trong giới hạn của đạo luật Ngân hàng Anh 1844. Tương tự, ở Đức, năm 1875 có đến 33 ngân hàng tư nhân được phép phát hành tiền, và quyền lực này sau đó được tập trung vào Ngân hàng Ðức (Bundesbank) trước Chiến tranh thế giới thứ nhất. Hầu hết các nước châu Âu (trừ Italia và Thuỵ Sĩ) cùng với một vài nước thuộc châu Á và châu Phi như Nhật, Algeria đã hình thành ngân hàng phát hành với quyền lực và sự ưu tiên từ Chính phủ. Tất cả các ngân hàng này, với những mức độ khác nhau, từng bước thực hiện các chức năng

của NHTW. Với ý nghĩa như vậy, khái niệm “NHTW” bắt đầu được nhắc đến từ

cuối thế kỷ XIX.

Hoàn thiện NHTW - Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến nay

Đây là giai đoạn hoàn thiện hoạt động NHTW về tổ chức, chức năng, đồng thời là giai đoạn thành lập một loạt các NHTW mới. Giai đoạn này được đánh dấu bởi một số mốc đáng ghi nhớ sau:

Nhà nước tiến hành tách rời chức năng độc quyền phát hành tiền ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ trực tiếp với công chúng của các NHTW. Các ngân hàng phát hành bây giờ chỉ được phép phát hành tiền mà không còn được kinh doanh tiền tệ. Hoạt động này được thực hiện trước hết ở Ngân hàng Anh, và sau đó ở các ngân hàng phát hành của các nước khác.

Từ năm 1920, hàng loạt các NHTW mới được thành lập do ảnh hưởng của NHTW Anh, Pháp, và đặc biệt do khuyến cáo của Hội nghị Tài chính - Tiền tệ lần thứ nhất khi khẳng định việc thành lập NHTW là cần thiết không những cho sự ổn định tiền tệ và tín dụng trong nước mà còn tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ quốc tế về thương mại và tài chính. Các ngân hàng này khi mới thành lập đã ngay lập tức mang đầy đủ bản chất của một NHTW vì sự cần thiết của nó đã được chứng minh qua kinh nghiệm các NHTW đang hoạt động.

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1929-1933 và sự phát triển của học thuyết Keynes về sự cần thiết của vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, cũng như ảnh hưởng của khối lượng tiền cung ứng đến các biến số kinh tế vĩ mô, đã tạo nên sự thay đổi toàn bộ nhận thức của các quốc gia về vai trò của NHTW. Phần lớn các nhà nước đã tiến hành quốc hữu hoá hoặc thành lập mới ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước (ví dụ, ngân hàng Anh được quốc hữu hóa năm 1947, NHTW Pháp năm 1946, NHTW Canada năm 1938, NHTW Ðức năm 1939). Ở một số nước, ngân hàng phát hành không hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước nhưng hoạt động vẫn mang tính nhất như một ngân hàng của nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là do nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm (Mỹ, Nhật).

Lịch sử ra đời của một số NHTW trên thế giới

NHTW lâu đời nhất trên thế giới là NHTW Thụy Điển Riksbank. Ngân hàng được thành lập năm 1668 với sự trợ giúp của các thương gia Hà Lan. Đến năm 1694, Ngân hàng Anh được một thương nhân người Scotland William Paterson thành lập tại London theo yêu

Page 5: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 87

cầu của chính phủ Anh để giúp trang trải chi phí chiến tranh. Ngân hàng Nhật Bản được thành lập 1882 trong Cải cách Minh Trị. Cục Dự trữ liên bang Mỹ được Quốc hội Mỹ thành lập năm 1913 theo Luật Glass-Owen. Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa bắt đầu vai trò như một ngân hàng trung ương vào năm 1979. Đến năm 2000, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa đã trở thành một NHTW hiện đại. Mô hình NHTW hiện đại nhất hiện nay là NHTW Châu Âu. Đây là ngân hàng trung ương độc lập nhất thế giới, chịu trách nhiệm ổn định tiền tệ cho khu vực sử dụng đồng Euro.

5.1.2. Các mô hình NHTW

5.1.2.1. Các mô hình NHTW Tùy theo điều kiện từng quốc gia, các NHTW có thể được tổ chức theo các mô hình khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung các NHTW được tổ chức theo hai mô hình lớn sau:

Hình 5.1 : Mô hình NHTW phụ thuộc Chính phủ

Theo mô hình này, NHTW nằm trong nội các Chính phủ, chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, tài chính và đặc biệt là các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. Ở một số quốc gia, NHTW còn trực thuộc Bộ Tài chính.

Mô hình này xuất phát từ quan điểm Nhà nước tập quyền. Chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế vĩ mô, do vậy NHTW, cơ quan thực thi chính sách tiền tệ, phải thuộc Chính phủ thì Chính phủ mới có mức tập quyền cao, mới tạo được sự ổn định cần thiết về chính trị và kinh tế, huy động được mọi nguồn lực phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế. Mô hình này được áp dụng ở phần lớn các nước Châu Á và các nước XHCN trước đây. Thành công của các nước công nghiệp mới Đông Á nơi NHTW là một bộ phận trong chính phủ là một bằng chứng thuyết phục về sự phù hợp của mô hình này đối với các nước Á Ðông.

Hình 5.2 : Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ

QUỐC HỘI

CHÍNH PHỦ

Các bộ, cơ quan ngang bộ

Ngân hàng trung ương

QUỐC HỘI

CHÍNH PHỦ NGÂN HÀNG

Page 6: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

88 v1.0

Theo mô hình này, NHTW có quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của Ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác. Chính phủ và NHTW chỉ có quan hệ hợp tác chứ không có quan hệ chi phối. Điển hình của mô hình này là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHTW Thuỵ sĩ, Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB)…

Xuất phát điểm của mô hình này dựa trên quan điểm dân chủ cổ truyền của Hy Lạp, La Mã. Người Châu Âu chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tự do và dân chủ của triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại, cho rằng khái niệm dân tộc, nhân dân luôn lớn hơn khái niệm quốc gia. Nếu NHTW trực thuộc Chính phủ, không có gì đảm bảo rằng NHTW sẽ luôn thực hiện chính sách tiền tệ vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, NHTW phải đặt dưới sự giám sát của toàn dân, mà đại diện là Quốc Hội.

Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW tổ chức theo mô hình này đều đảm bảo sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của Chính phủ khi thực hiện chính sách tiền tệ. Mức độ độc lập của mỗi NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của cơ quan đứng đầu Nhà nước, vào cơ chế lập pháp và nhân sự của Ngân hàng Trung ương.

5.1.2.2. Ngân hàng trung ương - Độc lập hay phụ thuộc với Chính phủ?

Những lý luận ủng hộ mô hình NHTW độc lập với Chính phủ

Các lý luận ủng hộ mô hình NHTW độc lập với Chính phủ cho rằng một NHTW độc lập sẽ thực hiện chính sách tiền tệ tốt hơn, đảm bảo được giá trị đồng tiền và kiềm chế được lạm phát. Theo nhiều nhà kinh tế, các chính trị gia trong xã hội dân chủ thường tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn (như giảm thất nghiệp, lãi suất) để có thể tiếp tục thắng cử ở những cuộc bầu cử tiếp theo, và do đó bỏ qua những mục tiêu dài hạn như ổn định giá trị đồng tiền. Các chính trị gia cũng thường sử dụng những giải pháp ngắn hạn để giải quyết những vấn đề kinh tế dù chúng có thể có những tác động tiêu cực trong dài hạn. Ví dụ tốc độ tăng lượng cung tiền nhanh có thể làm lãi suất giảm trước mắt, nhưng sau đó có thể lại làm lãi suất tăng khi lạm phát tăng lên. Như vậy, một NHTW độc lập với Chính phủ sẽ tránh được các “chu kỳ kinh tế chính trị”. NHTW sẽ hoạt động vì lợi ích của nhân dân hơn là vì lợi ích của một nhóm chính trị gia.

Bên cạnh đó, một NHTW trực thuộc cũng có thể phải chịu sức ép của Chính phủ để tài trợ các khoản thâm hụt ngân sách. Điều này có thể gây áp lực lạm phát đối với nền kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, ở những nước có NHTW độc lập với chính phủ thì tỷ lệ lạm phát cũng được duy trì ở mức thấp.

Những lý luận phản đối mô hình NHTW độc lập với Chính phủ

Bên cạnh những lý luận ủng hộ mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, cũng có những ý kiến phản đối. Một số ý kiến cho rằng khi NHTW trực thuộc Chính phủ, Chính phủ có thể kết hợp hài hòa, hiệu quả cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, tập trung các nguồn lực tốt nhất cho sự phát triển kinh tế, tránh trường hợp

Page 7: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 89

hai chính sách hoạt động trái chiều, triệt tiêu ảnh hưởng của nhau. Ngoài ra, một số ý kiến khác cũng cho rằng, chính phủ cũng quan tâm đến những vấn đề dài hạn của đất nước, chứ không hoàn toàn tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn, do vậy hoàn toàn có thể hướng chính sách tiền tệ đến các mục tiêu dài hạn.

Xu thế phổ biến hiện nay

Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều các NHTW chuyển sang áp dụng mô hình NHTW độc lập với Chính phủ. Các lý thuyết kinh tế cũng như bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy các NHTW độc lập hơn thường có những chính sách tiền tệ tốt hơn, điều này là một động lực khiến các NHTW theo xu thế này.

Sự độc lập của NHTW trên thế giới

Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed Reserve Systems - Fed): là một trong những NHTW độc lập nhất trên thế giới. Mọi quyết định do Fed đưa ra không cần phải thông qua Tổng thống hay bất kỳ một cơ quan Chính phủ nào mà chỉ phải báo cáo với Quốc hội. Fed độc lập cả về việc lập các mục tiêu của chính sách tiền tệ lẫn việc sử dụng các công cụ để thực hiện các mục tiêu đó.

Ngân hàng Anh (Bank of England): Cho đến năm 1997, NHTW Anh phụ thuộc nhiều vào Chính phủ, khi các quyết định tăng hoặc giảm lãi suất đều do Bộ trưởng bộ Tài chính quyết định. Ðến tháng 5/1997, khi Công đảng lên cầm quyền, Bộ trưởng bộ Tài chính Anh đã trao quyền quyết định lãi suất cho NHTW Anh, tuy nhiên, Chính phủ có quyền phủ quyết quyết định của NH và ấn định lãi suất trong những điều kiện đặc biệt và trong một thời gian nhất định. Quyết định về lãi suất do Ủy ban chính sách tiền tệ quyết định, Ủy ban này bao gồm thống đốc và 4 quan chức khác của NHTW, cùng với 4 chuyên gia kinh tế do Bộ trưởng Tài chính chỉ định.

Ngân hàng Nhật Bản (Bank of Japan): Trước năm 1998, NHTW Nhật trực thuộc Chính phủ, với quyền quyết định cuối cùng thuộc về Bộ Tài chính. Ðến năm 1998, luật Ngân hàng Nhật Bản mới đã thay đổi điều này. Ngoài việc xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, bộ luật mới này cũng giao nhiều quyền tự chủ hơn cho NHTW Nhật. Bộ Chính phủ cũng mất quyền kiểm soát NHTW Nhật trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quyền cách chức các quan chức NH cao cấp.

Ngân hàng Trung ương Châu Âu (European Central Bank - ECB): được thành lập theo Hiệp ước Maastricht, là ngân hàng độc lập nhất trên thế giới. ECB độc lập về cả mục tiêu lẫn công cụ so với Liên minh châu Âu, chính phủ và ngân hàng trung ương các nước trong khu vực đồng euro. Mục tiêu cao nhất của ECB là ổn định giá trị đồng tiền.

5.1.3. Chức năng của NHTW Mặc dù có thể được tổ chức theo các mô hình khác nhau nhưng NHTW của tất cả các nước phải đảm nhận một số chức năng cơ bản sau:

5.1.3.1. Ngân hàng phát hành Ðây là chức năng cơ sở để NHTW có thể thực hiện các chức năng khác. NHTW là cơ quan độc quyền phát hành tiền, tức là NHTW là người duy nhất được phép phát hành tiền theo các quy định trong luật nhằm đảm bảo tính thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia. Tiền do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất và thanh toán không hạn chế.

Page 8: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

90 v1.0

Ðể cho giá trị đồng tiền ổn định, đảm bảo đủ phương tiện tiền tệ cho nhu cầu lưu thông, việc phát hành tiền đòi hỏi phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt.

Các nguyên tắc phát hành tiền

Nguyên tắc phát hành tiền dựa trên cơ sở đảm bảo bằng vàng (trữ kim): Việc phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông phải được đảm bảo bằng vàng hiện hữu trong kho của NHTW. NHTW phải đảm bảo việc tự do đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng khi có yêu cầu. Mỗi nước, vào từng thời kỳ khác nhau, áp dụng nguyên tắc này một cách khác nhau (về mức độ bảo đảm vàng). Nhìn chung, trên

thế giới có 3 hình thức đảm bảo bằng vàng như sau:

o Nhà nước quy định một hạn mức phát hành (trong hạn mức: đảm bảo bằng chứng khoán chính phủ, quá hạn mức: 100% vàng). Hình thức này áp dụng ở Anh (1844-1938), sau đó Italia, Nhật, Thuỵ Ðiển. Hạn chế của phương thức phát hành này là cứng nhắc, gây nên sự thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông, đặc biệt khi có sự chảy máu vàng khỏi quỹ của NHTW hoặc có nhu cầu đột biến về tiền tệ. Trong thực tế, từ 1928, hạn mức này được điều chỉnh liên tục bởi sự

thay đổi thường xuyên của nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế.

o Quy định mức tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông và không quy định mức dự trữ vàng làm đảm bảo cho lượng giấy bạc đó. Nguyên tắc này được áp dụng tại Pháp từ năm 1870 đến 1928, theo đó quy định không được phép thay đổi lượng giấy bạc tối đa. Nguyên tắc này cũng được Anh áp dụng từ 1939 đến 1941, tuy nhiên quy định linh hoạt hơn Pháp khi cho rằng NTHW có quyền điều chỉnh để tăng hạn mức phát hành bất kỳ khối lượng này và vào bất kỳ thời gian nào trong giai đoạn quy định.

o Quy định mức dự trữ vàng tối thiểu cho khối lượng giấy bạc phát hành. Phần còn lại được đảm bảo bằng các thương phiếu, chứng khoán Chính phủ và các tài sản có khác.

Ví dụ, Hà Lan quy định chỉ cần duy trì 40% dự trữ vàng cho tổng lượng tiền phát hành, ở Bỉ, tỷ lệ này là 1/3, còn ở Mỹ quy định 35% dự trữ vàng so với tổng số tiền gửi phát hành cùng với 40% dự trữ cho tiền giấy phát hành.

Nhìn chung, nguyên tắc phát hành tiền dựa trên đảm bảo bằng vàng kém linh hoạt, phần nào tách rời khối lượng tiền phát hành ra khỏi nhu cầu lưu thông hàng hoá. Sau khủng hoảng 1929-1933 và đặc biệt sau Thế chiến II, các nước đã giảm, ngừng hoặc huỷ bỏ yêu cầu dự trữ vàng cho lượng tiền phát hành, chuyển đổi sang

cơ chế phát hành tiền linh hoạt hơn.

Nguyên tắc phát hành tiền dựa trên nhu cầu về tiền của nền kinh tế. Theo cơ chế này, việc phát hành tiền không phụ thuộc vào khối lượng vàng, NHTW phát hành tiền dựa trên những nghiên cứu về nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế. Ưu điểm của cơ chế này là linh hoạt, căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế và được phát hành trên cơ sở khối lượng hàng hoá, dịch vụ

Page 9: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 91

luân chuyển được thể hiện bằng các giấy tờ có giá của Chính phủ hoặc của doanh nghiệp.

Các kênh phát hành tiền:

o Cho Chính phủ vay: Ðể đảm bảo nguyên tắc phát hành tiền, NHTW thường

yêu cầu CP phải có tài sản thế chấp. Các tài sản này đảm bảo giúp cho các

NHTW có thể thu hút lượng tiền lưu thông qua các hoạt động trên thị trường

mở. Cơ chế này làm yếu năng lực kiểm soát tiền tệ, chứa đựng nguy cơ lạm

phát tiềm năng nên ngày càng ít được sử dụng.

o Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở (sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong phần

chính sách tiền tệ)

o Phát hành qua các NH trung gian: dưới hình thức cho vay tái chiết khấu (sẽ

được nghiên cứu kỹ hơn trong phần CSTT)

o Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ: NHTW tham gia thị trường ngoại tệ

để nhằm dự trữ ngoại hối, điều chỉnh tỷ giá khi cần thiết. Ðồng thời với việc

mua vàng, ngoại tệ trên thị trường, NHTW thực hiện việc phát hành trực tiếp

tiền ra lưu thông.

5.1.3.2. Ngân hàng của các Ngân hàng

Với vai trò là Ngân hàng của các NHTM, NHTW thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng sau:

NHTW mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại

Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng phải duy

trì trong một tài khoản không hưởng lãi đặt tại NHTW. Mức dự trữ này do NHTW

quy định, được xác định bằng một tỷ lệ nhất định trên tổng số dư tiền gửi của ngân

hàng. Chế độ dự trữ bắt buộc ở các nước khác nhau, các thời kỳ khác nhau có thể

khác nhau, song nhìn chung dự trữ bắt buộc đều mang tính pháp luật, gửi tại

NHTW và không được hưởng lãi.

Chức năng:

o Ðảm bảo khả năng thanh toán trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng, đảm

bảo an toàn cho hệ thống NHTM. Ngày nay, cùng với sự phát triển của thị

trường tài chính, xu hướng chứng khoán hoá trong hoạt động ngân hàng và sự

ra đời của các hình thức bảo hiểm tiền gửi, các ngân hàng có nhiều cách thức

để đảm bảo khả năng thanh toán của mình hơn, do vậy tỷ lệ dự trữ bắt buộc

ngày càng giảm ở hầu hết các quốc gia.

o Một công cụ của chính sách tiền tệ (nghiên cứu ở phần chính sách tiền tệ).

Tiền gửi thanh toán: Khoản tiền gửi của các NH tại NHTW để đảm bảo nhu cầu

chi trả trong thanh toán giữa các ngân hàng khác hoặc nhu cầu giao dịch với

NHTW.

NHTW cho vay đối với các NHTM:

Page 10: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

92 v1.0

NHTW cho các NHTM vay chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu các chứng

khoán ngắn hạn do các NHTM nắm giữ. Thông qua hành vi này, NHTW cấp vốn

cho hoạt động của NHTM, tạo điều kiện cho hoạt động của các NHTM.

Ngoài ra, NHTW còn đóng vai trò quan

trọng trong việc đảm bảo an toàn của hệ

thống ngân hàng thông qua vai trò “người

cho vay cuối cùng” của mình. Khi một

ngân hàng có nguy cơ phá sản và sự phá

sản đó có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của

hệ thống ngân hàng, NHTW có thể can

thệp, cung cấp tín dụng để tránh cho ngân

hàng đó khỏi sự phá sản.

Trung gian thanh toán giữa các ngân hàng:

Vì các ngân hàng thương mại đều mở tài khoản tại NHTW nên các NHTM có thể

thực hiện thanh toán với nhau trên tài khoản này. Khi đó, NHTW đóng vai trò như

trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại.

5.1.3.3. Ngân hàng trung ương (NHTW) là Ngân hàng của Nhà nước Là một định chế tài chính đảm nhận việc thực thi chính sách tiền tệ và đảm bảo sự ổn

định của thị trường tài chính, NHTW còn là ngân hàng của Nhà nước. NHTW cung

cấp các dịch vụ ngân hàng và nhiều dịch vụ khác cho Nhà nước.

Ngân hàng của Chính phủ

o Nhận tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, tổ chức thanh toán cho kho bạc Nhà nước trong quan hệ với khách hàng, bảo quản dự trữ quốc gia.

o Cho ngân sách nhà nước vay khi cần thiết: Cho vay phải đảm bảo các nguyên tắc phát hành tiền

o Ðứng ra bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ: thông báo về việc phát hành chứng khoán mới, tổ chức đấu thầu, công bố kết quả, tổ chức thanh toán khi đến hạn thông qua các NH thương mại.

Cố vấn, đại diện cho Nhà nước

o Cố vấn cho Chính phủ về các chính sách Tài chính-tiền tệ

o Đại diện Nhà nước trong các quan hệ với nước ngoài trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng (ký kết các hiệp ước quốc tế, đại diện cho nhà nước tại các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB)

Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng:

o Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ

o Phê duyệt, cấp giấy phép hoạt động cho các NHTM, các tổ chức tín dụng…, thu hồi giấy phép, đình chỉ hoạt động…

o Quy định các quy chế hoạt động cho các NHTM, các tổ chức tín dụng…

o Ðảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Page 11: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 93

o Thanh tra, kiểm tra hoạt động của hệ thống ngân hàng

Page 12: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

94 v1.0

5.2. Quá trình cung ứng tiền tệ

5.2.1. Các chủ thể trong quá trình cung ứng tiền tệ

Hình 5.3. Các chủ thể trong quá trình cung ứng tiền tệ

Ngân hàng trung ương - cơ quan giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng và chịu trách nhiệm thực thi chính sách tiền tệ

Các ngân hàng thương mại (các tổ chức nhận tiền gửi) - các trung gian tài chính huy động gửi và cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.

Người gửi tiền

Người vay tiền từ các ngân hàng thương mại

Trong bốn chủ thể trên, Ngân hàng trung ương đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình cung ứng tiền tệ.

5.2.2. Ngân hàng trung ương và lượng tiền cơ sở

5.2.2.1. Bảng cân đối kế toán (giản lược) của NHTW Việc thực thi chính sách tiền tệ của NHTW liên quan đến những hoạt động làm thay đổi bảng cân đối kế toán của NHTW. Vì vậy, trong phần này, chúng ta sẽ nghiên cứu một bảng cân đối kế toán đơn giản (chỉ gồm 4 khoản mục) của một NHTW để tạo điều kiện cho sự phân tích quá trình cung ứng tiền tệ ở phần sau.

Tài sản có Tài sản nợ

- Chứng khoán chính phủ

- Các khoản cho vay chiết khấu đối với Ngân hàng thương mại

- Tiền trong lưu thông (C) - Dự trữ của các ngân hàng thương mại (R)

MB = C + R

Hình 5.4: Bảng cân đối kế toán đơn giản

Tài sản nợ

Có hai khoản mục tài sản nợ trong Bảng cân đối kế toán của NHTW là tiền trong lưu thông (Currency in circulation - C) và dự trữ của các ngân hàng thương mại (Reserves - R).

o Tiền mặt trong lưu thông (C) là số lượng tiền mặt đang lưu thông nằm trong tay dân chúng (ngoài hệ thống ngân hàng). Số tiền mặt trong lưu thông nằm trong hệ thống ngân hàng được tính vào dự trữ ngân hàng.

Page 13: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 95

o Dự trữ ngân hàng (R) bao gồm dự trữ tại NHTM và dự trữ của NHTM đặt tại NHTW

Cả hai khoản mục này đều rất quan trọng trong quá trình cung ứng tiền tệ vì sự gia tăng của một hay cả hai khoản mục này sẽ làm tăng khối lượng tiền cung ứng (trong điều kiện những nhân tố khác không đổi). Đây chính là lượng tiền cơ sở của nền kinh tế (monetary base - MB).

Tài sản có

Hai khoản mục tài sản có trong Bảng cân đối kế toán của NHTW bao gồm:

o Chứng khoán chính phủ. Loại tài sản này bao gồm những chứng khoán chính phủ do Kho bạc phát hành. NHTW cung cấp vốn cho hệ thống ngân hàng bằng cách mua chứng khoán, do đó làm tăng số chứng khoán chính phủ nắm giữ. Do đó, chứng khoán chính phủ tăng đồng nghĩa với việc cung tiền tăng.

o Các khoản vay chiết khấu. NHTW có thể cho các NHTM vay thông qua việc tái chiết khấu các chứng từ có giá. Do đó khi khoản mục này tăng, lượng tiền cung ứng sẽ tăng.

Như vậy, có thể thấy hai tài sản này đóng vai trò hết sức quan trọng. Sự thay đổi của các tài sản này sẽ làm dự trữ ngân hàng thay đổi, từ đó dẫn đến sự thay đổi cung tiền.

5.2.2.2. Ngân hàng trung ương và quá trình kiểm soát lượng tiền cơ sở (MB) Như phân tích trong phần 2.1, lượng tiền cơ sở bằng tiền mặt trong lưu thông (C) cộng với tổng dự trữ của hệ thống ngân hàng (R)

MB = C + R

NHTW có thể kiểm soát lượng tiền cơ sở thông qua việc mua bán chứng khoán chính phủ trên thị trường mở, hoặc qua việc cung cấp các khoản vay chiết khấu cho các ngân hàng thương mại.

Nghiệp vụ thị trường mở

Cách phổ biến được nhiều NHTW trên thế giới áp dụng để làm thay đổi lượng tiền cơ sở là thông qua nghiệp vụ thị trường mở.

NHTW mua chứng khoán trên thị trường mở

o NHTW mua chứng khoán từ các NHTM: Giả sử NHTW mua $100 trái phiếu chính phủ từ NHTM và thanh toán bằng séc. Lúc bấy giờ, dự trữ ngân hàng sẽ tăng lên $100 và chứng khoán chính phủ do NHTW nắm giữ sẽ tăng thêm $100. Lượng tiền cơ sở do vậy tăng thêm $100.

o NHTW mua chứng khoán từ các cá nhân, tổ chức phi ngân hàng: Tương tự, nếu NHTW mua $100 trái phiếu chính phủ từ các cá nhân, tổ chức phí ngân hàng và thanh toán bằng séc. Nếu người bán gửi séc đó vào tài khoản đặt tại NHTM thì dự trữ ngân hàng sẽ tăng lên $100, còn nếu người bán quyết định đổi séc ra tiền mặt thì tiền mặt trong lưu thông sẽ tăng lên $100. Trong cả hai trường hợp, lượng tiền cơ sở đều tăng lên $100, tuy nhiên tác động đến lượng tiền cơ sở và dự trữ ngân hàng có thể khác nhau.

Page 14: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

96 v1.0

NHTW bán chứng khoán trên thị trường mở

Nghiệp vụ bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán ngược lại với nghiệp vụ mua chứng khoán, làm cho số lượng chứng khoán trái phiếu chính phủ nắm giữ giảm và lượng tiền cơ sở giảm tương ứng.

Lưu ý là nghiệp vụ thị trường mở có thể được thực hiện với các tài sản khác ngoài chứng khoán chính phủ, ví dụ ngoại hối. Hoạt động can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối cũng làm thay đổi lượng tiền cơ sở.

Cho vay chiết khấu

Khi NHTW cho NHTM vay dưới hình thức chiết khấu các chứng từ có giá, các khoản vay chiết khấu bên tài sản có sẽ tăng và tương ứng là dự trữ ngân hàng bên tài sản nợ, làm cho lượng tiền cơ sở tăng.

5.2.2.3. Quá trình tạo tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại – Mô hình đơn giản Sau khi nghiên cứu cách thức các NHTW kiểm soát lượng tiền cơ sở và nghiên cứu hoạt động của các NHTM, chúng ta có đủ công cụ cần thiết để nghiên cứu quá trình tạo tiền gửi của các NHTM.

Giả sử NHTM A nhận được $100 tiền gửi, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%. NHTM A sẽ giữ lại $10 và cho vay $90. Người vay tiền lại gửi số tiền vay vào NHTM B. Như vậy tiền gửi tại NHTM B lại tăng lên $90 và làm tăng dự trữ của NHTM B và của hệ thống ngân hàng, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. NHTM B lại tiếp tục giữ 10% tỷ lệ dự trữ bắt buộc và cho vay số tiền còn lại. Giả sử quá trình này liên tục tiếp diễn, tổng số tiền gửi vào hệ thống ngân hàng sẽ tăng từ $100 ban đầu lên $1000, tăng gấp 10 lần.

Ngân hàng Tăng tiền gửi Tăng tiền cho vay Tăng dự trữ A 100 90 10 B 90 81 9 C 81 72.9 8.1 D 86.61 59.05 6.56 … … … …

Tổng 1000 1000 100

Hinh 5.5: Quá trình tạo tiền gửi đơn giản (giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%)

Quá trình tạo tiền gửi như trên được gọi là mô hình số nhân tiền tệ đơn giản. Trong ví dụ trên, với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì số nhân tiền đơn giản là 10. Công thức

tổng quát của số nhân tiền tệ đơn giản là:1

mr

, trong đó m là số nhân tiền tệ, r là tỷ lệ

dự trữ bắt buộc.

Lưu ý, mô hình số nhân tiền tệ đơn giản dựa trên nhiều giả định:

Số tiền cho vay được người đi vay tiếp tục gửi vào hệ thống ngân hàng

Các ngân hàng chỉ giữ dự trữ bắt buộc và cho vay toàn bộ dự trữ vượt mức.

Page 15: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 97

Vi phạm những giả định này sẽ khiến cho số nhân tiền đơn giản không còn chính xác. Vì vậy, trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ mở rộng, nghiên cứu đầy đủ hơn về số nhân tiền. Chúng ta sẽ nghiên cứu hành vi và mối quan hệ giữa bốn chủ thể trong quá trình cung ứng tiền để có thể xây dựng được một mô hình cung ứng tiền tệ có tính thực tế hơn.

5.2.2.4. Mô hình cung ứng tiền tệ và số nhân tiền tệ Khi xác định mô hình cung tiền, chúng ta sử dụng M1 (tiền mặt cộng tiền gửi không kỳ hạn) để đo lượng tiền cung ứng. Mặc dù trên thực tế, các nhà hoạch định chính sách thường sử dụng M2, tuy nhiên ở đây chúng ta vẫn sử dụng M1 vì mô hình này đơn giản hơn, nhưng vẫn cung cấp cho chúng ta một cái nhìn cơ bản về quá trình cung ứng tiền tệ.

Mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng và lượng tiền cơ sở

MS = m x MB

MS là lượng tiền cung ứng (M1)1

m là số nhân tiền tệ

MB là lượng tiền cơ sở.

Số nhân tiền tệ cho chúng ta biết lượng cung tiền sẽ thay đổi như thế nào khi lượng tiền cơ sở thay đổi. Số nhân tiền tệ phản ánh ảnh hưởng của các nhân tố khác ngoài lượng tiền cơ sở lên lượng cung tiền, ví dụ như quyết định của người gửi tiền về việc giữ tiền hay gửi tiền vào ngân hàng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW, dự trữ vượt mức của các NHTM...

Tính toán số nhân tiền tệ

Trong mô hình đơn giản, chúng ta không đề cập đến ảnh hưởng của quyết định nắm giữ tiền/tiền gửi của dân chúng hay quyết định giữ dự trữ vượt mức của các NHTM đến quá trình tạo tiền gửi. Trong mô hình này, chúng ta sẽ chú ý đến những yếu tố trên. Dự trữ ngân hàng sẽ bao gồm dự trữ bắt buộc (Required Reserve - RR) và dự trữ vượt mức (Excess Reserve - ER)

Giả định: Lượng tiền mặt người dân muốn giữ (Currency - C) và dự trữ vượt mức của ngân hàng (ER) tỷ lệ thuận với tiền gửi (Deposit - D) và đặt:

Cc

D là tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi

ERe

D là tỷ lệ dự trữ vượt mức

Ta có, lượng tiền cơ sở: MB = R + C = RR + ER + C

1

MB rD eD cD (r e c)D D MBr e c

1 c 1 cM C D cD D D(1 c) m

r e c r e c

1 Giả định lượng tiền cung ứng là M1

Page 16: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

98 v1.0

Các nhân tố ảnh hưởng đến số nhân tiền tệ

Từ công thức trên có thể thấy, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến số nhân tiền tệ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc (r), tỷ lệ dự trữ vượt mức (e) hay tỷ lệ nắm giữ tiền mặt/tiền gửi (c).

Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Số nhân tiền tệ và lượng cung tiền tỷ lệ nghịch với tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng trong khi những nhân tố khác không thay đổi, ngân hàng thương mại sẽ cần nhiều dự trữ hơn. Thiếu hụt dự trữ sẽ buộc các ngân hàng phải giảm các khoản cho vay, do đó làm giảm lượng tiền gửi vào ngân hàng và giảm lượng cung tiền. Lượng cung tiền giảm khi MB vẫn giữ nguyên cho thấy số nhân tiền tệ cũng giảm.

Thay đổi tỷ lệ nắm giữ tiền mặt/tiền gửi: Số nhân tiền tệ và lượng cung tiền tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt/tiền gửi. Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt/tiền gửi tăng có nghĩa người gửi tiền chuyển một số tiền gửi thành tiền mặt. Tiền gửi có tác động đến quá trình cung tiền trong khi tiền mặt thì không. Vì vậy, khi người gửi tiền nắm giữ nhiều tiền mặt hơn, quá trình tạo tiền gửi sẽ giảm, lượng cung tiền và số nhân tiền tệ đều giảm.

Thay đổi tỷ lệ dự trữ vượt mức: Số nhân tiền tệ và lượng cung tiền tỷ lệ nghịch với tỷ lệ dự trữ vượt mức. Khi ngân hàng tăng tỷ lệ dự trữ vượt mức, hệ thống ngân hàng sẽ phải cho vay ít hơn, làm giảm lượng tiền gửi được tạo ra, giảm lượng cung tiền và số nhân tiền tệ

5.3. Chính sách tiền tệ

5.3.1. Định nghĩa Chính sách tiền tệ (CSTT) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW, thông qua các công cụ của mình, kiểm soát và điều tiết khối lượng cung tiền cung ứng hoặc lãi suất để đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội đề ra.

Trong định nghĩa trên, có một số điểm cần lưu ý sau đây

CSTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế tài chính vĩ mô quốc gia, là một công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

Chủ thể thực hiện CSTT là NHTW. Do CSTT hướng vào việc thay đổi lượng tiền cung ứng nên chủ thể nào thực hiện chức năng phát hành tiền và điều hoà lưu thông tiền tệ thì chính chủ thể đó phải trực tiếp thực thi CSTT. Chủ thể đó chính là NHTW. Có một số nước, việc xây dựng CSTT được giao cho một cơ quan khác nhưng việc thực hiện CSTT vẫn là NHTW. Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng CSTT để Chính phủ xem xét trình Quốc hội và là cơ quan trực tiếp thực thi CSTT sau khi đã được phê duyệt

Mục đích của CSTT: đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội đề ra

Chính sách tiền tệ có thể được hoạch định theo một trong hai hướng là chính sách tiền tệ mở rộng và chính sách tiền tệ thắt chặt.

CSTT mở rộng được thực hiện nhằm tăng lượng tiền cung ứng, giảm lãi suất, khuyến khích đầu tư, tiêu dùng, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm;

CSTT thắt chặt được thực hiện nhằm giảm lượng tiền cung ứng, tăng lãi suất, tránh sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, giảm áp lực lạm phát.

Page 17: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 99

5.3.2. Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ

5.3.2.1. Mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ CSTT là một công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô nên các mục tiêu của CSTT cũng là những mục tiêu kinh tế vĩ mô. Các mục tiêu này hầu như thống nhất ở các nước. Chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Ðiều 2 Luật NHNN Việt Nam quy định Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Hay Luật Dự trữ Liên bang Mỹ sửa đổi năm 1977 quy định mục tiêu của CSTT Mỹ là thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững, tạo công ăn việc làm và duy trì sự ổn định của mức giá.

Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát (Price Level Stablility; InflationTargeting)

Các NHTW luôn coi việc ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. Ổn định giá cả về cơ bản là tạo dựng một môi trường trong đó các cá nhân và doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định tài chính mà không phải lo lắng về lạm phát. Ổn định giá cả được hiểu là một tình trạng trong đó lạm phát không xuất hiện trong các tính toán kinh tế của con người (Alan Greenspan).

Tác hại của lạm phát và giảm phát

Những biến động bất thường trong tỷ lệ lạm phát sẽ mang lại tổn thất cho mọi cá nhân trong nền kinh tế. Lạm phát cao cản trở sự phát triển kinh tế. Mức lạm phát cao gây khó khăn trong việc nhận biết được ý nghĩa của một sự thay đổi trong mức giá của một hàng hoá. Giá tăng do cầu hàng hoá đó tăng hay do nó phản ánh mức giá tăng chung của toàn bộ nền kinh tế? Hơn nữa, tỷ lệ lạm phát cao thường biến động liên tục, điều này sẽ làm tăng một mức bù rủi ro lạm phát đối với lãi suất cũng như gây méo mó, sai lệch thông tin và do đó gây khó khăn trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Ngoài ra, lạm phát cao còn khiến các chủ thể kinh tế phải dành nhiều thời gian và tiền bạc để phòng vệ chống lại lạm phát thay vì theo đuổi các hoạt động kinh tế sinh lời. Bên cạnh đó, lạm phát bất ngờ còn dẫn đến sự phân phối lại của cải xã hội. Ví dụ, đối với các khoản vay có lãi suất cố định, lạm phát tăng bất ngờ sẽ phân phối lại của cải từ người cho vay đến người đi vay vì lạm phát làm giảm số tiền thực tế phải trả khi giá trị danh nghĩa cố định.

Giảm phát cũng gây tác dụng xấu đối với nền kinh tế. Giảm phát được hiểu là sự sụt giảm mức giá chung. Nó không phải là sự giảm giá của một số mặt hàng mà là sự giảm giá trong toàn bộ nền kinh tế (tỷ lệ lạm phát mang dấu âm). Ðiều này thoạt nhìn có vẻ tốt, đặc biệt từ góc độ của người tiêu dùng. Tuy nhiên, giảm phát cũng có những tác dụng xấu tương tự như lạm phát. Trong ví dụ về vay vốn với lãi suất cố định trên, giảm phát sẽ phân phối lại của cải nhưng theo hướng ngược lại. Giảm phát cũng làm giảm giá trị các khoản thế chấp của hộ gia đình và doanh nghiệp, khiến cho họ khó vay vốn ngân hàng hơn. Trong điều kiện giảm phát, lãi suất thường thấp hơn mức lãi suất trong điều kiện lạm phát thấp, điều này đã thu hẹp khả năng sử dụng chính sách tiền tệ để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế của các ngân hàng trung ương.

Lạm phát và giảm phát đều có hại cho nền kinh tế. Tuy nhiên, một tỷ lệ lạm phát thấp, vừa phải (<3%) trong chừng mực nào đó có thể là yếu tố để kích thích kinh tế

tăng trưởng. Khi đó lạm phát trở thành công cụ điều tiết.

Page 18: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

100 v1.0

Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt, đây được xem là một mục tiêu dài hạn. Các NHTW thường lượng hoá mục tiêu này bằng tỷ lệ lạm phát (hay tỷ lệ gia tăng chỉ số giá cả tiêu dùng xã hội - CPI). Tỷ lệ lạm phát từ 0-3% thường được xem là thống nhất với mục tiêu ổn định giá cả. Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của các NHTW nhằm ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn (NHTW sẽ không tập trung điều chỉnh sự biến động giá cả về mặt ngắn hạn - không khả thi do những biện pháp về chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế có tính chất trung và dài hạn và khó có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vào thời điểm nào trong tương lai).

Tăng trưởng kinh tế vững chắc

Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu xã hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy để kích thích tăng trưởng kinh tế. Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế với việc tạo một môi trường khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tăng trưởng trong ngắn hạn (ví dụ như khi nền kinh tế hồi phục từ một cuộc khủng hoảng và tăng trưởng nhanh) và tăng trưởng dài hạn (thường tăng với tốc độ chậm hơn mức tăng trưởng trên). Chính sách tiền tệ có tác động nhiều hơn đối với sự tăng trưởng trong ngắn hạn so với sự tăng trưởng dài hạn. Về dài hạn, khối lượng hàng hoá do nền kinh tế tạo ra phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác ngoài chính sách tiền tệ như trình độ công nghệ, cung lao động, sự ưa thích của con người đối với tiết kiệm… Tuy nhiên trong ngắn hạn nền kinh tế phải trải qua các chu kỳ kinh tế trong đó sản lượng có thể thấp hơn hoặc cao hơn mức sản lượng tiềm năng. Khi đó, chính sách tiền tệ có thể có những tác động trong ngắn hạn. Ví dụ như khi nhu cầu giảm sút, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, NHTW có thể kích thích nền kinh tế và đưa nó về mức sản lượng tiềm năng với việc hạ lãi suất.

Tuy nhiên, chính sách tiền tệ cũng có thể có một số ảnh hưởng đối với mức tăng trưởng trong dài hạn của nền kinh tế: lãi suất thấp thúc đẩy quá trình tạo vốn và thúc đẩy đầu tư, tỷ lệ lạm phát thấp giúp tạo một môi trường kinh doanh ổn định, xoá bỏ những yếu tố không hiệu quả do lạm phát gây ra và do đó góp phần làm tăng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế.

Giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo công ăn việc làm

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế vững chắc có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp. Kinh tế tăng trưởng cao góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và do đó sa thải nhiều công nhân.

Tạo công ăn việc làm đầy đủ là một mục tiêu quan trọng của tất cả các chính sách kinh tế, trong đó có chính sách tiền tệ. Giảm tỷ lệ thất nghiệp có ý nghĩa quan trọng do:

Page 19: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 101

o Thất nghiệp ảnh hưởng xấu đến mỗi cá nhân và gia đình của họ, làm cho họ gặp nhiều khó khăn về tài chính và là mầm mống của các tệ nạn xã hội.

o Thất nghiệp gây ra tình trạng lãng phí tài nguyên, do đó làm giảm tổng sản phẩm

quốc dân.

o Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân

sách và làm căng thẳng tình trạng ngân sách.

Giảm tỷ lệ thất nghiệp không đồng nghĩa với tỷ lệ thất nghiệp bằng 0 vì trong nền kinh tế luôn tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu. Mục tiêu tạo công ăn việc làm là tạo ra việc làm đầy đủ ở mức mà cung lao động bằng với cầu lao động, tại đó đạt được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.

Mối quan hệ giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ

Nhìn tổng quát và trong chiến lược lâu dài, các mục tiêu của chính sách tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, có khi các mục tiêu trên có thể mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn mục tiêu ổn định giá cả có thể mâu thuẫn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong ngắn hạn. Khi nền kinh tế tăng trưởng cao, tỷ lệ thất nghiệp giảm, lãi suất và lạm phát có thể tăng. Nếu NHTW muốn giữ không cho lãi suất tăng, điều này có thể làm cho nền kinh tế phát triển quá nóng và gâp áp lực lạm phát. Nhưng nếu NHTW quyết định tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát, trong ngắn hạn, thất nghiệp có thể tăng. Điều này thể hiện qua đường cong Phillips trong ngắn hạn (trong dài hạn, đường cong Phillips là một đường thẳng đứng, ngụ ý rằng không có

sự mâu thuẫn giữa mục tiêu của CSTT trong dài hạn).

Đường cong Phillips trong ngắn hạn

Việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu, tăng chi phí đầu vào làm giảm tổng cung, khiến tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên. Ðể có một tỷ lệ lạm phát thấp phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp cao và ngược lại.

Trên thực tế, các nhà kinh tế học tin rằng:

Page 20: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

102 v1.0

Khi tỷ lệ lạm phát tăng, hoặc khi người ta dự đoán tỷ lệ lạm phát tăng, đường Phillips sẽ dịch sang phải, do đó làm cho quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát càng xấu hơn, vì với một mức thất nghiệp sẽ phải đi kèm với một mức lạm phát cao hơn trước.

Ðường Phillips cũng có thể dịch chuyển sang trái, nếu người ta dự đoán tỷ lệ lạm phát sẽ giảm (điều này đã xảy ra vào những năm 1980, 1990 ở Mỹ khi cả tỷ lệ thất nghiệp lẫn lạm phát đều giảm)

Ðể giảm lạm phát, NHTW theo đuổi chính sách tiền tệ thu hẹp, do đó giảm sản lượng và tăng tỷ lệ thất nghiệp để giảm áp lực lạm phát trên thị trường lao động và thị trường hàng hoá. Nếu chính sách tiền tệ thu hẹp này được thực hiện trong một thời gian dài và duy trì được tỷ lệ lạm phát thấp trong một thời gian dài, đường Phillips có thể dịch chuyển sang trái, khi đó với một tỷ lệ thất nghiệp sẽ có một tỷ lệ lạm phát thấp hơn. Do vậy, một chính sách tiền tệ thu hẹp, nếu thành công, có thể được xem là một trường hợp hy sinh lợi ích ngắn hạn để có thể đạt được những lợi ích về lâu dài.

Như vậy trong ngắn hạn, các NHTW có thể không đạt được tất cả các mục tiêu cơ bản của CSTT. Phần lớn các NHTW coi mục tiêu ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên trong ngắn hạn, đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu này để theo đuổi các mục tiêu ngắn hạn khác (như khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột).

5.3.2.2. Các mục tiêu trung gian NHTW thường mong muốn đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội như ổn định giá cả, tăng trưởng, tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên, NHTW không thể trực tiếp kiểm soát được những mục tiêu này. NHTW có những công cụ như nghiệp vụ thị trường mở, chính sách tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc để có thể đạt được những mục tiêu cuối cùng. Vấn đề của các NHTW là những công cụ này lại không trực tiếp tác động đến mục tiêu cuối cùng. Những công cụ này ảnh hưởng đến những biến số kinh tế như lượng cung tiền, lãi suất, rồi những biến số kinh tế đó lại ảnh hưởng đến những mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian thường không được xác định chắc chắn (độ trễ - lag). Do vậy, khi thực thi chính sách tiền tệ, các NHTW thường đặt ra một nhóm mục tiêu trung gian (targets/intermediate targets), những mục tiêu có ảnh hưởng trực tiếp và có thể dự đoán được đến những mục tiêu cuối cùng. Với việc theo dõi các mục tiêu trung gian, các NHTW có thể nhận biết được chính sách tiền tệ có đạt được mục đích mong muốn hay không, mà không phải chờ đến tác động đến mục tiêu cuối cùng.

Vậy, mục tiêu trung gian là các chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục đích cuối cùng của chính sách tiền tệ.

Tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu trung gian:

Có thể đo lường được: Các mục tiêu trung gian phải là những chỉ tiêu có thể đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng bởi các chỉ tiêu này chỉ có ý nghĩa khi chúng có thể phản ánh hiệu quả của chính sách tiền tệ nhanh hơn các mục tiêu cuối cùng. NHTW có thể dựa vào các mục tiêu này để điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết. Hiển nhiên NHTW không thể đưa ra một tỷ lệ tăng trưởng M2 nếu không biết M2 tăng trưởng với tốc độ bao nhiêu.

Page 21: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 103

NHTW có thể kiểm soát được: NHTW phải có khả năng kiểm soát được mục tiêu trung gian và điều chỉnh chúng cho phù hợp với định hướng của chính sách tiền tệ. Do vậy, NHTW không thể dùng GDP danh nghĩa làm mục tiêu trung gian được.

Có mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng: Ðây là một chỉ tiêu quan trọng nhất. Khả năng đo lường được một cách chính xác hoặc khả năng kiểm soát được của NHTW sẽ trở nên vô nghĩa nếu các chỉ tiêu được chọn không có ảnh hưởng trực tiếp đối với các mục tiêu cuối cùng.

Hai chỉ tiêu đáp ứng được các tiêu chuẩn trên là tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất. Tuy nhiên không thể đồng thời sử dụng cả hai mục tiêu này làm mục tiêu trung gian. NHTW chỉ có thể chọn một trong hai chỉ tiêu căn cứ vào mối liên hệ của chỉ tiêu này đến mục tiêu cuối cùng. Nếu cố định lãi suất, lượng cung tiền có thể biến động mạnh, dẫn đến lạm phát. Nếu đạt được mục tiêu về tổng khối lượng tiền lại phải chấp nhận sự biến động của lãi suất. Ðiều này do lượng cầu tiền có thể biến động nhiều.

Hình 5.6. Chọn lượng cung tiền làm mục tiêu trung gian

Hình 5.7. Chọn lượng lãi suất làm mục tiêu trung gian

Các NHTW phải chọn lựa mục tiêu trung gian phù hợp với điều kiện kinh tế và khả năng quản lý của mình. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thường chọn lãi suất là mục tiêu trung gian trong khi NHNN Việt Nam lại chọn lượng cung tiền.

Page 22: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

104 v1.0

5.3.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ Căn cứ vào mức độ tác động của các công cụ lên mục tiêu trung gian, có thể chia các công cụ của chính sách tiền tệ thành hai nhóm: các công cụ gián tiếp (tác động gián tiếp lên mục tiêu trung gian) và các công cụ trực tiếp (tác động trực tiếp lên mục tiêu trung gian). Hiện nay, NHTW các nước chủ yếu sử dụng các công cụ gián tiếp để thực thi CSTT. Các công cụ trực tiếp chỉ được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt.

5.3.3.1. Các công cụ gián tiếp Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation - OMO)

Định nghĩa

Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ trong đó NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường mở để thay đổi dự trữ ngân hàng, từ đó tác động đến lượng tiền cung ứng và mức lãi suất trên thị trường.

Những điểm cần lưu ý trong nghiệp vụ thị trường mở:

o Chứng khoán: Chứng khoán sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở thường là các chứng khoán chính phủ, chủ yếu là tín phiếu kho bạc, do các chứng khoán này có tính lỏng cao, được mua bán nhiều trên thị trường nên khả năng tiếp nhận một khối lượng lớn chứng khoán mua bán trên thị trường sẽ không làm giá trên thị trường biến động quá mạnh, dẫn đến sụp đổ thị trường.

o Thị trường mở: Là thị trường tiền tệ mở - thị trường bán buôn, với các chủ thể tham gia là các ngân hàng, các tổ chức tài chính, các công ty lớn…

Phân loại nghiệp vụ thị trường mở:

o Nghiệp vụ mua và nghiệp vụ bán trên thị trường mở. Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quan trọng và được sử dụng nhiều nhất ở các nước phát triển như

Mỹ, Anh… Tuỳ thuộc vào việc NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng

hay thắt chặt, NHTW sẽ thực hiện nghiệp vụ mua hay bán trên thị trường mở.

Nghiệp vụ mua vào trên thị trường mở (open-market purchases): NHTW mua chứng khoán từ các ngân hàng và ghi có cho tài khoản dự trữ của các ngân hàng tại ngân hàng TW, điều này làm tăng dự trữ ngân hàng, tăng số nhân tiền gửi, dẫn đến cung tiền tăng và lãi suất giảm.

Nghiệp vụ bán ra trên thị trường mở (open market sales): NHTW bán chứng khoán cho các ngân hàng và ghi nợ tài khoản dự trữ của các ngân hàng tại ngân hàng TW, điều này làm dự trữ giảm, số nhân tiền tệ giảm, cung tiền giảm và lãi suất tăng.

o Nghiệp vụ thị trường mở năng động và nghiệp vụ thị trường mở thụ động/phòng vệ. Nghiệp vụ thị trường mở còn có thể được phân thành hai loại:

Nghiệp vụ thị trường mở năng động (dynamic OMO): làm thay đổi MB, thay đổi lượng cung tiền và lãi suất. Nghiệp vụ này được thực hiện với một quyết định của NHTW (ví dụ như quyết định giảm lãi suất). Nghiệp vụ thị trường mở năng động có thể mở rộng hay thắt chặt.

Page 23: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 105

Nghiệp vụ thị trường mở mở rộng: với mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp: NHTW mua chứng khoán trên thị trường mở từ các ngân hàng làm lượng cung tiền tăng, lãi suất giảm, từ đó dẫn đến đầu tư doanh nghiệp và tiêu dùng hộ gia đình tăng, khiến GDP tăng và tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm.

Nghiệp vụ thị trường mở thắt chặt: với mục tiêu kiềm chế lạm phát: NHTW bán chứng khoán trên thị trường mở cho các ngân hàng làm lượng cung tiền giảm, lãi suất tăng, tổng cầu giảm, áp lực lạm phát giảm.

Nghiệp vụ thị trường mở thụ động/phòng vệ (defensive OMO): nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ của các ngân hàng, duy trì mức lãi suất cơ bản hiện tại (Khi dự trữ của các NHTM tăng lên, để duy trì mức lãi suất cơ bản, NHTW mua chứng khoán trên thị trường mở để giảm dự trữ của các NHTM và ngược lại). Nghiệp vụ này không đi kèm với bất kỳ sự thay đổi chính sách nào. Các NHTW thường tiến hành nghiệp vụ này hàng ngày.

Cơ chế tác động:

o NHTW bán các chứng khoán trên thị trường mở sẽ làm giảm lượng dự trữ của các ngân hàng trung gian. Khả năng tạo tiền thông qua kênh tín dụng của hệ thống ngân hàng vì thế bị ảnh hưởng, dẫn đến làm giảm lượng tiền cung ứng. Tương tự, khi NHTW mua các chứng khoán trên thị trường mở sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng.

o Khi vốn khả dụng của các ngân hàng giảm (tăng) do tác động của hoạt động thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng giảm xuống (hoặc tăng lên), trong điều kiện các yếu tố liên quan không đổi, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng lên (giảm xuống). Thông qua các hoạt động arbitrage về lãi suất, ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãi suất của các công cụ thị trường mở, và lãi suất thị trường trái phiếu. Kết quả là chi phí cơ hội đối với người có vốn dư thừa và giá vốn đầu tư đối với người thiếu hụt vốn tăng lên (hoặc giảm xuống), làm giảm nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng, do đó làm giảm sản lượng và việc làm.

Ưu điểm của công cụ:

o NHTW có thể kiểm soát được khối lượng của nghiệp vụ thị trường mở mà không chịu ảnh hưởng của bất kỳ nhân tố nào khác.

o Nghiệp vụ thị trường mở rất linh hoạt và chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ mức độ nào dù nhỏ và có thể dễ dàng đảo ngược lại khi có sai lầm xảy ra trong lúc tiến hành nghiệp vụ.

o Thực hiện một cách nhanh chóng, không vướng phải những chậm trễ về hành chính do đó có thể có tác dụng tức thì.

Tuy nhiên, công cụ này chỉ áp dụng hiệu quả trong điều kiện thị trường vốn thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng phát triển.

Page 24: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

106 v1.0

Ở Việt Nam, nghiệp vụ thị trường mở chính thức được khai trương vào ngày 12/07/2000. Mặc dầu doanh số giao dịch qua các phiên giao dịch chưa lớn, số lượng thành viên tham gia và số lượng hàng hoá sử dụng trên thị trường còn hạn hẹp nhưng kết quả các phiên giao dịch cho thấy việc sử dụng công cụ thị trường mở đã có những dấu hiệu tích cực, tác động đến vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng và góp phần thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ.

Chính sách tái chiết khấu

Định nghĩa

Chính sách tái chiết khấu là một công cụ của NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ, trong đó NHTW cho các ngân hàng vay dưới hình thức chiết khấu các chứng khoán có giá ngắn hạn.

Cửa sổ chiết khấu là nơi các ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi có thể vay vốn từ NHTW với một mức lãi suất chiết khấu. Mức lãi suất này thường thấp hơn mức lãi suất thị trường ngắn hạn. Cửa sổ chiết khấu là một công cụ mà NHTW không có quyền kiểm soát hoàn toàn.

Cơ chế tác động của chính sách tái chiết khấu:

NHTW có thể tác động đến khối lượng vay qua 2 cách: tác động đến giá cả các khoản vay (lãi suất chiết khấu) hoặc/và đến khối lượng vay.

o Giá cả các khoản vay: NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu, làm cho giá của các khoản vay tăng, hạn chế cho vay các ngân hàng, buộc các ngân hàng phải giảm bớt khả năng cung ứng tín dụng, lượng tiền cung ứng giảm. Khi NHTW giảm lãi suất cho vay, giá của các khoản vay rẻ hơn, khuyến khích cho vay các ngân hàng, làm khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng tăng lên, lượng tiền cung ứng tăng lên.

o Khối lượng vay chiết khấu: Khối lượng vốn NHTW cho các ngân hàng vay chiết khấu có thể mở rộng hoặc thu hẹp, điều này ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng, làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi.

NHTW quản lý khối lượng cho vay bằng nhiều cách để tránh cho khoản vốn của mình bị sử dụng không đúng và cũng để hạn chế việc cho vay này. Do lãi suất tái chiết khấu thường thấp hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng rất muốn vay vốn từ NHTW thông qua cửa sổ chiết khấu và dùng tiền này để cho vay lại hoặc mua chứng khoán với lãi suất cao hơn. NHTW cố gắng ngăn cản tình hình này bằng cách quy định thể lệ cho các ngân hàng, giới hạn mức vay của các ngân hàng. Việc các ngân hàng được vay vốn ở cửa sổ chiết khấu là một đặc ân chứ không phải là một quyền lợi.

Ngân hàng phải chịu ba khoản phí khi vay vốn ở cửa sổ chiết khấu: (i) lãi suất chiết khấu, (ii) phí về việc phải làm đúng theo các điều tra của NHTW về khả năng thanh toán của ngân hàng khi đến vay tại cửa sổ chiết khấu và (iii) phí về việc rất có thểbị từ chối cho vay chiết khấu vì đến vay tại cửa sổ chiết khấu quá thường xuyên.

Ngoài việc được sử dụng làm một công cụ của chính sách tiền tệ, chính sách chiết khấu còn được các ngân hàng TW sử dụng trong chức năng người cho vay cuối

Page 25: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 107

cùng và chức năng thông báo (nó có thể thông báo cho thị trường về ý định của NHTW về CSTT trong tương lai).

Chức năng thông báo và người cho vay cuối cùng của chính sách chiết khấu

Chức năng thông báo: Chính sách chiết khấu có thể được sử dụng để thông báo cho thị trường về ý định của NHTW về chính sách tiền tệ trong tương lai. Ví dụ: khi NHTW muốn ngăn ngừa nguy cơ lạm phát bằng một chính sách lãi suất cao, nó sẽ nâng mức lãi suất tái chiết khấu lên. Ðiều này cung cấp dấu hiệu về một chính sách tiền tệ thắt chặt trong tương lai. Tuy nhiên, điểm bất lợi là nó có thể bị thị trường giải thích sai lệch đi. Chẳng hạn như khi NHTW nhận thấy lãi suất tái chiết khấu hiện tại đang thấp hơn nhiều so với lãi suất thị trường dẫn đến việc các NHTM lạm dụng các khoản vay từ NHTW để tăng cung tín dụng làm lượng tiền cung ứng tăng mạnh, NHTW muốn tăng lãi suất CK để làm giảm bớt các khoản vay từ NHTW để tránh nguy cơ tăng trưởng quá nhanh của lượng tiền cung ứng. Tuy nhiên, việc tăng lãi suất tái chiết khấu của NHTW có thể bị thị trường hiểu lầm là dấu hiệu của sự thay đổi trong CSTT của NHTW, và do vậy gây ra những phản ứng sai lệch, trái với ý định của NHTW. Ðể khắc phục nhược điểm này, NHTW nên công bố công khai mục đích của mình khi quyết định thay đổi lãi suất tái chiết khấu .

Chức năng người cho vay cuối cùng: Chính sách tái chiết khấu có thể được NHTW sử dụng để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng (lender of last resort) của mình. Thông qua công cụ này, NHTW cung cấp thêm dự trữ cho các ngân hàng đang có nguy cơ phá sản do không có khả năng chi trả, từ đó tránh được một cuộc sụp đổ dây chuyền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Ưu điểm:

o Các khoản cho vay của NHTW đều được đảm bảo bằng các chứng khoán có giá

o Có thể sử dụng chính sách này để thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng.

Nhược điểm:

o Có thể khiến dân chúng hiểu sai những ý định của NHTW khi thông báo những thay đổi lãi suất tái chiết khấu.

o NHTW không thể kiểm soát hoàn toàn tác động của công cụ này bởi NHTW chỉ có thể thay đổi mức lãi suất chiết khấu và các điều kiện chiết khấu mà không thể bắt các ngân hàng trung gian vay từ mình. Chính sách này chỉ có thể phát huy tác dụng khi các ngân hàng có nhu cầu đi vay từ ngân hàng TW.

o Không dễ dàng đảo ngược như nghiệp vụ thị trường mở.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Định nghĩa

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng phải duy trì trong một tài khoản đặt tại NHTW. Mức dự trữ này do NHTW quy định, được xác định bằng một tỷ lệ nhất định trên tổng số dư tiền gửi của ngân hàng – tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở các nước khác nhau, các thời kỳ khác nhau có thể khác nhau, song nhìn chung dự trữ bắt buộc đều mang tính pháp luật, gửi tại NHTW và không được hưởng lãi.

Cơ chế tác động

Page 26: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

108 v1.0

o Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên sẽ buộc các ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi phải gửi nhiều tiền hơn ở NHTW, từ đó làm giảm lượng tiền có thể cho vay, giảm cung tiền và ngược lại

o Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng. Tiền dự trữ bắt buộc đều phải mở tài khoản và gửi ở NHTW và không được hưởng lãi, cho dù các NHTM vẫn phải trả lợi tức cho các khoản tiền gửi ở NH mình. Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đòi hỏi các NHTM phải tăng lãi suất cho vay, giá các khoản cho vay đắt hơn, khả năng cho vay giảm xuống, và theo đó lượng tiền cung ứng cũng giảm xuống.

Công cụ này được áp dụng đầu tiên ở Mỹ năm 1913 nhằm đảm bảo vốn khả dụng tối ưu cho các ngân hàng thương mại, thoả mãn nhu cầu rút tiền từ các khoản tiền gửi. Dự trữ bắt buộc nhanh chóng được áp dụng với vai trò là một công cụ của chính sách tiền tệ ở nhiều nước khác như Ðức, Anh, Pháp… Việt Nam bắt đầu sử dụng công cụ này từ năm 1992.

Ưu điểm

o Tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau và có ảnh hưởng rất mạnh đến cung ứng tiền tệ.

o Tăng cường quyền lực cho NHTW vì tuỳ theo mục đích của Chính sách tiền tệ và tuỳ theo mức vốn khả dụng của các NHTM, NHTW có quyền điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các NHTM phải có trách nhiệm thực hiện.

o Ðảm bảo khả năng thanh toán cho hệ thống NHTM, giúp NHTM tránh được rủi ro do mất khả năng thanh toán.

Nhược điểm

o Do có tác dụng rất mạnh nên chính sách này ít được sử dụng. Chính sách này cũng không thể sử dụng đối với những điều chỉnh nhỏ.

o Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn gây ra ảnh hưởng lâu dài đối với cung tiền. Chính sách này còn không thực tế do chi phí quản lý cao và gây nhiều ảnh hưởng xấu đối với hệ thống ngân hàng.

Một số quốc gia ủng hộ việc huỷ bỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc (tức là đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0) như Canada, Thuỵ Sĩ, Australia. Các nhà kinh tế ủng hộ việc không duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho rằng phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức 10% đã làm giảm khả năng cạnh tranh và tính sinh lợi của các ngân hàng Mỹ vì trên thực tế các ngân hàng này chỉ cần duy trì mức dự trữ khoảng 1-2% số tiền gửi là đã có thể đáp ứng được nhu cầu rút tiền. Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc được duy trì ở mức 0%, các ngân

Page 27: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 109

hàng vẫn duy trì một mức dự trữ nhưng có thể cho vay nhiều hơn và thu được nhiều lợi nhuận hơn.

5.3.3.2. Các công cụ trực tiếp Các công cụ trực tiếp là các công cụ tác động trực tiếp vào mục tiêu trung gian (khối lượng tiền trong lưu thông hoặc lãi suất) qua đó đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Công cụ trực tiếp thường được áp dụng đối với những nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và giai đoạn đầu chuyển sang cơ chế thị trường.

Hạn mức tín dụng

Định nghĩa

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế để hạn chế việc tạo tiền quá mức của các ngân hàng thương mại làm tăng tổng khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế.

Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và chỉ tiêu lạm phát dự kiến hàng năm, ngoài ra còn dựa vào một số tín hiệu thị trường khác: tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá, thâm hụt ngân sách nhà nước, tốc độ lưu thông tiền tệ… Trên cơ sở đó, hạn mức tín dụng được phân bổ cho từng ngân hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của từng ngân hàng, tỷ trọng cho vay của nó trong quá khứ so với tổng mức cho vay của hệ thống ngân hàng, định hướng cơ cấu kinh tế, nhu cầu tài trợ của các đối tượng. NHTM chỉ được cấp tín dụng tối đa cho nền kinh tế bằng với hạn mức tín dụng.

Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp khi các công cụ gián tiếp không

phát huy hiệu quả do thị trường tiền tệ chưa phát triển, hoặc do mức cầu tiền tệ không

nhạp cảm với sự biến động lãi suất, hay NHTW không có khả năng không chế và

kiểm soát được sự biến động của lượng vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng thương

mại. Công cụ này còn được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao nhằm khống chế

trực tiếp và ngay lập tức lượng tiền cung ứng.

Ðây là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính

hành chính của NHTW để khống chế mức tăng

khối lượng tín dụng cung ứng cho nền kinh tế.

Hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi

nó thiếu linh hoạt, không thể thay đổi thường

xuyên vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kinh

doanh của các NHTM. Việc xác định hạn mức tín

dụng cho các NHTM rất khó, nhiều khi thiếu

chính xác. Nếu hạn mức tín dụng lớn hơn nhu cầu

tín dụng thì công cụ này không còn ý nghĩa. Ngược lại, nó có thể đẩy lãi suất lên cao,

làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại, làm lệch lạc cơ cấu

Page 28: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

110 v1.0

đầu tư của các ngân hàng thương mại, làm phát sinh các thị trường tài chính “ngầm”

ngoài sự kiểm soát của NHTW

Hạn mức tín dụng ở Việt Nam

Trong điều kiện chưa áp dụng được các công cụ gián tiếp, NHNN Việt Nam bắt đầu sử

dụng hạn mức tín dụng như công cụ của chính sách tiền tệ từ tháng 6/1994. Ðối tượng ban

đầu là 4 NHTM quốc doanh chiếm đến 90% tổng dư nợ cho vay của cả hệ thống các tổ

chức tín dụng. Bước đầu hạn mức này đã khống chế được mức tăng dư nợ ngắn hạn là 24%

do với năm 1993. Tuy nhiên, đến năm 1995 hạn chế của công cụ này thể hiện rõ nét khi

mức tăng dự nợ tín dụng thực tế vược hạn mức tín dụng cho phép tới 1,66 lần, năm 1996

vượt đến 2 lần. Sang đến năm 1997, 1998 tình hình lại biến chuyển ngược lại hạn mức tín

dụng thừa ra so với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Công cụ hạn mức tính dụng trở

nên không có hiệu quả, một phần vì bản thân công cụ này đã mang tính chất hành chính và

thiếu linh hoạt nhưng hạn chế chủ yếu của nó là xuất phát từ sự thiếu căn cứ trong việc xác

định hạn mức tín dụng và sự lỏng lẻo các các chế tài trong việc quản lý hạn mức này. Bên

cạnh đó, hạn mức tín dụng chỉ được phân bổ cho một số ngân hàng nên phần nào hạn chế

tính công bằng trong cạnh tranh. Từ quý II năm 1998, NHNN đã quyết định không sử dụng

công cụ hạn mức tín dụng như là một công cụ thường xuyên trong điều hành chính sách

tiền tệ mà chỉ dùng đến hạn mức tín dụng khi cần phải hạn chế sự gia tăng tín dụng nhanh

chóng có nguy cơ lạm phát cao.

Ấn định lãi suất

NHTW có thể trực tiếp quy định lãi suất tiền gửi hoặc cho vay hoặc ấn định khung lãi

suất tiền gửi hoặc cho vay của các NH thương mại. Ðể tránh rủi ro, bảo vệ quyền lợi

cho các ngân hàng TM, NHTW thường quy định mức lãi suất “sàn” tối đa cho tiền gửi

và mức lãi suất “trần” tối thiểu cho tiền vay. NHTW muốn kiểm soát được lãi suất,

bởi vì lãi suất có tác động mạnh đến tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động vào tăng

trưởng kinh tế và giá cả.

Hạn chế:

Kiểm soát lãi suất của các ngân hàng thương mại sẽ làm cho các NHTM mất đi

tính linh hoạt và quyền tự chủ kinh doanh, triệt tiêu cạnh tranh.

Có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở Ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc

khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ ngoại tệ, bất động sản trong khi NH bị

hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay.

Hiện nay các nước đều đã và đang chuyển sang tự do hoá lãi suất ngân hàng, bởi vì

trong cơ chế thị trường, lãi suất rất nhạy cảm với vốn đầu tư, nó phải được vận động

theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.

Page 29: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 111

TÓM LƯỢC CUỐI BÀI

NHTW là một trong những chủ thể quan trọng nhất trên thị trường tài chính. NHTW ra đời từ sự phát triển và phân hóa của hệ thống ngân hàng. NHTW chịu trách nhiệm thực thi chính sách tiền tệ và quản lý hệ thống ngân hàng của một quốc gia.

Các NHTW có thể nằm trong nội các Chính phủ, chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ hoặc có thể hoạt động độc lập không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của Chính phủ hoặc các áp lực chính trị khác. Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều các NHTW chuyển sang áp dụng mô hình NHTW độc lập với Chính phủ.

Mặc dù có thể được tổ chức theo các mô hình khác nhau nhưng NHTW của tất cả các nước phải đảm nhận một số chức năng cơ bản như ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các ngân hàng và ngân hàng của nhà nước.

NHTW xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ với mục tiêu ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát, đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo công ăn việc làm.

Các công cụ của chính sách tiền tệ có thể được phân thành hai nhóm: các công cụ gián tiếp và các công cụ trực tiếp. Các công cụ gián tiếp bao gồm nghiệp vụ thị trường mở, chính sách tái chiết khấu và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Hiện nay, NHTW các nước chủ yếu sử dụng các công cụ gián tiếp để thực thi chính sách tiền tệ. Các công cụ trực tiếp chỉ được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt.

Page 30: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

112 v1.0

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

1. Khi quốc hữu hóa các NHTW, Nhà nước mong muốn điều gì?

2. Tiền do NHTW phát hành ra tại sao lại chỉ là một bộ phận của cung tiền?

3. Tại sao các ngân hàng thương mại không mong muốn duy trì tỷ lệ dự trữ cao nhưng vẫn tồn

tại khái niệm tỷ lệ dự trữ vượt mức?

4. Lãi suất tái chiết khấu có thể thấp hơn lãi suất chiết khấu được hay không?

5. Tại sao lại nói việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ có tính hành chính cao?

Page 31: BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆeldata11.topica.edu.vn/HocLieu/v1.0/FIN101/Giao trinh/07-FIN101-Bai... · và những công cụ chính sách tiền tệ

Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ

v1.0 113

PHỤ LỤC

Do môi trường kinh tế toàn cầu đang xấu đi, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ còn 5% trong năm 2009 và lạm phát chung giảm xuống mức một con số.

Đây là thông tin ông Benedict Bingham, Đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam cho biết về những nghiên cứu của tổ chức này đối với triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2009.

Bản báo cáo cho hay: Sau một vài năm phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế Việt Nam hiện đang đối mặt với một số thử thách. Sau khi phát triển nhanh năm 2007, đà tăng trưởng đã giảm xuống trong năm 2008 vì Chính phủ phải ổn định nền kinh tế đang quá nóng.

Trong khi Chính phủ đã đạt được những tiến bộ rất đáng ca ngợi trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, thì Việt Nam gần đây bắt đầu gặp phải ảnh hưởng xấu từ sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu.

Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đang giảm, phản ánh sự đi xuống của các nền kinh tế của những đối tác thương mại chính. Kiều hối và đầu tư trực tiếp nước ngoài, hai nguồn chính của hoạt động kinh tế năm 2007 cũng đang giảm xuống từ mức cao do sự suy giảm của các điều kiện kinh tế toàn cầu.

Những thách thức bên ngoài này kết hợp với những thách thức bên trong bắt nguồn từ thâm hụt lớn của cán cân vãng lai cũng như những điểm yếu trong lĩnh vực ngân hàng và doanh nghiệp làm tình hình khó khăn hơn.

Trong bối cảnh đó, IMF đã có những đánh giá sơ bộ về triển vọng kinh tế Việt Nam như sau: “Do môi trường kinh tế toàn cầu đang xấu đi, chúng tôi dự báo tăng trưởng kinh tế giảm từ 8,5% trong năm 2007 xuống 6,25% trong năm 2008 và sẽ giảm hơn nữa xuống còn 5% trong năm 2009.

Với giá các mặt hàng sơ chế đang giảm, lạm phát chung được dự báo là sẽ giảm xuống mức một con số vào cuối năm 2009, mặc dù lạm phát cơ bản (không bao gồm thực phẩm thô và năng lượng) có thể giảm chậm hơn.

Thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại dự kiến sẽ giảm với việc nhập khẩu giảm nhiều hơn so với giảm xuất khẩu và kiều hối, nhưng vẫn giữ ở mức cao (9% của GDP) trong năm 2009 và vẫn còn là nguyên nhân của tính dễ bị tổn thương vì dự trữ quốc tế của Việt Nam tương đối thấp (3 tháng nhập khẩu)”.

Cũng theo dự đoán của nhóm nghiên cứu IMF, những căng thẳng trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã tăng lên trong năm 2008 và có thể sẽ tăng hơn nữa trong năm 2009 do hoạt động kinh tế chậm lại.

“Về trung hạn, phái đoàn nhấn mạnh lại quan điểm là triển vọng vẫn có thuận lợi, miễn là Chính phủ vẫn duy trì các chính sách lành mạnh và tiếp tục cải cách để tăng tính cạnh tranh của Việt Nam”, phái đoàn của IMF nhấn mạnh.

http://www.vnchannel.net/news/kinh-te/200812/lam-phat-viet-nam-2009-se-xuong-muc-mot-con-so.123509.html